Giai Tri Tuoi Tre Entertainment Network

...Nghịch Lý Tình Yêu-Đỗ Quyên...

Bi Thảo Luận ...Nghịch Lý Tình Yêu-Đỗ Quyên... Trong Tiểu Thuyết & Truyện Dài forums, thuộc mục Phòng Truyện ; Tập 1 Có một đứa bé gầy còm ốm yếu trong bộ quần áo rộng thênh thang đã phai màu ...


Go Back   Giai Tri Tuoi Tre Entertainment Network > Sống Khỏe & Sống Vui > Tủ Sách Tuổi Trẻ > Phòng Truyện > Tiểu Thuyết & Truyện Dài

Register FAQ Members List Calendar Radio and TV Mark Forums Read
Old 05-10-2006, 10:20 PM   #1
chieuhoavang
Những Người Đã Góp Sức Xây Dựng GTTT
 
chieuhoavang's Avatar
 
Join Date: Nov 2005
Location: trên đất dưới trời
Posts: 2,565
Thanked 314 Times in 221 Posts
...Nghịch Lý Tình Yêu-Đỗ Quyên...



Tập 1




Có một đứa bé gầy còm ốm yếu trong bộ quần áo rộng thênh thang đã phai màu cũ kỹ vẻ khốn khổ nghèo nàn. Mà không hiểu tại sao tự nãy giờ nó cứ vùi mặt trong đôi tay xương xẩu mong manh khóc rưng rức mãi trên chuyến xe khách từ lục tỉnh lên Thành phố Hồ Chí Minh, làm người đàn bà ngồi cùng một băng ghế nghe cũng xót xa, thắc mắc không biết nguyên nhân nào đã khiến con bé khóc dữ như vậy. Bà nhìn được ra nó là con gái nhờ mái tóc khá dài rủ xuống bờ vai gầy nhỏ nhắn của nó.

Một lúc sau chuyến xe đỗ xịch lại trên bến cuối cùng. Hành khách trên xe cũng lục đục kéo xuống gần hết, ấy thế mà con bé vẫn im lìm bất động trong tư thế cũ, khiến người đàn bà cũng chạnh lòng không nỡ dời chân. Bà quay qua con hỏi khẽ:

− Xe đến bến rồi, cháu về đâu?

Bấy giờ con bé mới ngước lên với gương mặt đờ đẫn nhỏ choắt xanh xao đến tội nghiệp, chỉ có đôi mắt dường như to hơi bởi gương mặt quá nhỏ bé của nó. Bà muốn nhìn cô bé lâu hơn một chút, bởi nó có đôi mắt quá ư là đẹp, đen thẫm long lanh nhưng cũng thật buồn, hàng mi rợp dài nặng trĩu nỗi ưu tư sầu muộn mà một khi đã nhìn vào đó rồi, người đối diện cũng không sao có thể làm ngơ cho được.

Nó đưa đôi mắt còn đầy lệ ngơ ngác nhìn bà một lúc, rồi lắc đầu chứ không nói gì.

Người đàn bà nhìn lại nó, phân vân một hồi hỏi tiếp:

− Cháu đi một hay đi với ai?

Lúc này con bé mới trả lời lí nhí trong miệng phải lắng tai mới nghe được:

− Cháu chỉ đi một mình.

Người đàn bà lại hỏi:

− Cháu lên đây làm gì, tìm người quen hay tìm việc làm?

Nó lắc đầu trả lời:

− Cháu cũng không biết nữa!

Người đàn bà nhíu mày nhìn con bé:

− Vậy bây giờ cháu định đi đâu?

Con bé lại lắc đầu, nước mắt bắt đầu rơi lã chã. Người đàn bà trố mắt nhìn con bé, lòng cuộn lên nỗi xót xa thương cảm, nên nhẹ giọng vỗ về:

− Thôi, đừng khóc nữa! Hãy nói cho ta biết hoàn cảnh cháu ra sao, coi ta có thể giúp gì cho cháu không?

Ngồi im lìm một chút như để sắp xếp lại mọi chuyện, con bé mới bắt đầu kể lể, mắt vẫn còn rưng rưng trông thảm não âu sầu:

− Cháu từ Rạch Giá lên đây, có mang theo số áo quần và ít tiền để dành làm lộ phí. Nhưng cách đây chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ thôi, cả bọc áo quần và tiền của cháu không cánh mà bay đi đâu mất và cháu cũng không hay nó biến mất tự lúc nào.

Nói xong, con bé lại khóc tỉ tê.

Thấy bộ mặt ngơ ngơ ngáo ngáo của nó lúc này, người đàn bà cũng không nỡ trách nó một câu nặng nhẹ nào cho sự thờ ơ đểnh đoảng đó, mà chỉ lắc đầu nhè nhẹ với vẻ bùi ngùi thương cảm rồi nói tiếp:

− Người dân sống ở đây không phải ai cũng thật thà chân chất như ở quê của cháu đâu mà lầm, nên tiền bạc hay vật chất tuỳ thân khi đi đâu mang theo cũng phải cẩn thận giữ gìn, chứ chỉ cần bỏ lỡ một loáng là mất ngay tức khắc. Một lần để cháu rút kinh nghiệm cho sau này, cũng như không nên tin tưởng vào lời ngon tiếng ngọt cửa người lạ mặt nào hết, cháu biết chưa?

Con bé chợt co rúm nười lại lùi dần vào trong góc ghế, giương mắt nhìn bà vẻ sợ sệt đề phòng. Người đàn bà thấy cử chỉ ngây ngô đó của nó, bà vừa thương lại vừa buồn cười nên nói:

− Ta nói đây là nói chuyện sau này kìa. Giờ đừng có nhìn ta như vậy. nếu là người xấu, nãy giờ ta không ngồi đây nói chuyện với cháu làm gì?

Bà ngưng nói phẩy tay cách bất mãn khi thấy con bé cứ nhìn ngơ ngác vẻ không hiểu gì. Bà lại nói:

− Bây giờ có nói gì cháu cũng không thể hiểu nổi đâu, để thời gian sau chắc cháu sẽ hiểu. Bây giờ, trước mắt ta có thể giúp gì cho cháu đây?

Con bé đưa mắt buồn rầu nhìn bà, thố lộ:

− Cháu đã trốn nhà lên đây với số tiền dành dụm ít ỏi đó, mong tìm một chỗ ở trọ trước rồi mới tìm việc làm để có tiền mà nuôi thân. Nhưng giờ đây áo quần, tiền bạc gì cũng mất hết rồi, nên cháu trông mong tính toán gì được nữa.

Nói đến đây, con bé lại ôm mặt khóc rưng rức. Còn người đàn bà thì trợn mắt nhìn con bé một cách ngạc nhiên lẫn một chút lo âu. Một lúc sau, bà mới hỏi:

− Tại sao lại trốn nhà?

Lúc này con bé đã bớt e dè, vừa thút thít, nó vừa kể lể:

− Mẹ cháu đã qua đời sau một cơn bịnh nặng cách nay năm năm. Một năm sau thì ba cháu lại tái giá cùng người đàn bà khác. Cháu vô phước gặp phải bà mẹ kế không thương, nên luôn bị hành hạ đánh đập suốt ngày. Cũng may, cháu còn người cha nên bà ấy không dám quá lộng quyền, thế nên cháu vẫn còn được cắp sách đến trường và cố cắn răng chịu đựng những trận đòn roi hết sức vô lý chỉ mong được học hành đến nơi đến chốn. Công việc thì phải làm quần quật không được nghỉ ngơi, cơm cháo thì bữa đói bữa no quấy quá qua ngày chứ đâu có được một thức ăn nào dinh dưỡng tẩm bổ thân xác. Trong khi bạn bè cùng trang lứa, tụi nó đã ra dáng là thiếu nữ thướt tha xinh đẹp vì có đầy đủ cha mẹ yêu thương, săn sóc ân cần. Còn cháu…

Nói đến đây, con bé chợt nghẹn ngào giọng rưng rưng muốn khóc:

− Còn cháu cứ mãi gầy gò ốm yếu xanh xao còn thua một đứa con nít thế này… - Nó lại ngừng nói, nhìn xuống đôi tay trơ xương của mình rồi nói tiếp, giọng lạc hẳn - Vậy mà có được yên đâu, thời gian sau này không hiểu sao ba cháu còn đâm ra đổ đốn rượu chè be bét suốt ngày. Từ đó, mọi quyền hành sinh sát lớn nhỏ trong nhà đều lọt vào tay bà mẹ kế, giống như lưỡi hái tử thần lọt vào tay phù thuỷ cho mặc sức bà tung hoành…

… Mấy tháng trước đây vừa lúc cháu thi xong lấy bằng tốt nghiệp cấp III, bà ấy bắt cháu phải nghỉ học ngay để lấy chồng, mà nghe đâu người đàn ông này là do bà chọn lựa hay mối mai gì đó, nên cháu đâu còn con đường nào khác ngoài việc trốn nhà ra đi để tự giải thoát cho mình, nếu không ưng lấy người đàn ông ấy.

Người đàn bà sửng sốt nhìn con bé chăm chăm một cách ngỡ ngàng như mới vừa nghe một câu chuyện hoang đường. Vì chuyện nó trốn nhà ra đi giờ đây không làm bà kinh ngạc bằng chuyện nó vừa nói. Nó đã học hết cấp ba và còn bị ép lấy chồng, như vậy là con bé năm nay cũng đã mười tám, mười chín tuổi rồi còn gì. Vậy mà nãy giờ bà ước chừng con bé tong teo, bé xíu như thế, ai mà nghĩ nó đã vào tuổi thành niên.

Im lặng khá lâu như để cho mọi cảm giác lắng xuống, người đàn bà lại nhìn con bé, nói giọng đều đều:

− Nói thật với cháu, ta cũng không phải giàu có gì để có thể bảo bọc hay đỡ đần gì được cho cháu, vì ta 'cô thân độc mã', phải đem thân đi làm thuê ở mướn cho người ta thôi. Nhưng ta có phước hơn cháu ở chỗ có công ăn việc làm ổn định, mà nhà chủ lại rất phúc hậu biết thương người, nên ta cũng sống được qua ngày. Nếu cháu không nề hà cực khổ, ta có thể dẫn cháu đến đó xin với ông chủ cho cháu có một công việc làm, cháu thấy thế nào?

Bỗng con bé sụp ngay xuống chân bà, có ý như muốn tạ ơn. Người đàn bà nhanh tay đỡ nó lên, trách nhẹ:

− Đừng làm vậy cháu, hãy đứng lên nghe ta hỏi nè! Vậy cháu năm nay được bao nhiêu tuổi?

− Dạ, mười tám tuổi.

− Cháu tên gì?

− Cháu tên An Mỵ.

Người đàn bà lại nhìn An Mỵ, nói đơn giản:

− Thôi được rồi, hãy gọi ta là dì Hai đi, bởi ta thứ Hai nên ai cũng gọi như vậy. Giờ dì cháu mình xuống xe được rồi.

An Mỵ hí hửng gật đầu đứng dậy. Bây giờ bà mới thấy rõ được hình hài, vóc dáng của con bé hơn. So với cái tuổi mười tám, con bé quá ư là nhỏ, vì vậy mới nhìn vào không ai có thể đoán ra nổi tuổi của nó, mà dẫu nói ra cũng chưa chắc ai tin.

An Mỵ dừng chân bên cạnh dì Hai trước cánh cổng sắt sơn màu nâu đồng cao chót vót, mà bên trong là ngôi biệt thự đồ sộ nguy nga được bao quanh bởi một hàng rào dây thép gai kiên cố. Trồng theo rào là một loại hoa hồng dây, là loài hoa hồng rất nhiều gai dài sắc nhọn. Muốn cho hàng rào được chắc và kín, người ta mới trồng loại hoa này, vì thân của nó thuộc giống dây leo chằng chịt lại rất to vươn cao hơn cả đầu người, hoa nở cũng rất đẹp không thua gì giống hồng nhung Đà Lạt, lại có người chăm sóc cắt tỉa công phu nên mới nhìn vào, An Mỵ còn tưởng một tấm thảm màu xanh được trải kín hoa hồng, mà lúc nãy vừa nhìn thấy An Mỵ đã thích mê đi được.

Bỗng nhiên An Mỵ chợt khựng lại vì sực nhớ ra thân phận của mình. Hơn nữa, nào giờ An Mỵ chưa từng được bước chân vào một ngôi nhà quá sang trọng như thế này nên cô nghe chùn bước, mặc dù chỉ với thân phận một người làm công.

Thấy con bé chợt lựng khựng, dì Hai như hiểu được tâm trạng của nó lúc này. Dì bước đến bấm chuông rồi nắm lấy tay con bé như muốn tiếp thêm nghị lực.

Một lúc sau, một người đàn ông cỡ tuổi dì Hai thò đầu ra cánh cổng được mở hé cách cẩn thận. Nhìn ra dì Hai, ông mới điểm nhẹ nụ cười thân thiện hỏi:

− Chị Hai mới lên đó hả? - Hỏi xong, ông ta mới kéo rộng thêm cánh cửa một chút rồi nói tiếp - Lúc sáng ông chủ có hỏi chị chừng nào lên, tôi mạo muội trả lời, chắc hôm nay, bởi hôm trước tôi có nghe loáng thoáng chị nói như vậy. Mà sao chuyến này chị lên trễ vậy?

Dì Hai hơi khựng lại đưa mắt qua An Mỵ:

− À! Tại… tôi phải đến rước cháu nên mới lên trễ.

Lúc này người đàn ông mới đưa mắt qua An Mỵ. Cô gật đầu chào ông, ông mới gật lại và không nói gì.

Dì Hai lại cất tiếng:

− Thôi chúng ta vào nhà đi!

Dì Hai dẫn An Mỵ vào ngôi nhà nhỏ phía bên hông ngôi biệt thự. Dì lấy chìa khoá mở cửa đưa cô vào trong và bảo cô ngồi xuống chiếc ghế nghỉ chân. An Mỵ gật đầu nhưng nét mặt hãy còn ngơ ngác, dường như lúc này cô còn nghĩ mình đang mơ.

Cô đứng đó đưa mắt nhìn quanh. Ngôi nhà tuy nhỏ nhưng thoáng mát sạch sẽ gọn gàng như vầy với cô đã quá ấm cúng. Cô còn đang suy nghĩ lan man chưa biết làm gì, dì Hai lại lên tiếng:

− Cháu ra phía sau rửa mặt cho mát mẻ, rồi lát nữa theo dì lên gặp ông chủ, cứ nhận là cháu ruột của dì đi cho tiện để khỏi phải giải thích dài dòng.

An Mỵ gật đầu vẻ cảm động rồi hỏi:

− Ông chủ có nghiêm khắc lắm không dì?

Dì Hai lắc đầu:

− Ông chủ thì không nghiêm khắc nhưng cậu Hai thì ngược lại. Song mọi người trong nhà đều rất tốt bụng, nên con cũng đừng quá lo. Trong nhà này có ba thành viên tất cả, ông chủ thì coi như con biết rồi. Còn cậu chủ là một bác sĩ giỏi có tiếng tăm, nghe nói có mở một bệnh viện tư rất lớn tại trung tâm thành phố do cậu quản lý, tính tình nghiêm nghị, ít nói lại rất kỹ càng, nhất nhất mọi cái điều phải đâu ra đó. Nên dì dặn trước, hễ sau này quét dọn gì trong phòng cậu chủ, cháu không được tự ý xê dịch hay dời đổi bất cứ vật gì của cậu dù rất nhỏ và phải làm cho thật sạch sẽ gọn gàng ngăn nắp đó. Còn cô Ba thì hơi trẻ con hời hợt, lại có chút kiêu kỳ, song cũng không đến nỗi khó ưa cho lắm. Dường như cô ấy chỉ lớn hơn con đôi ba tuổi gì đó.

Mới nghe dì Hai giới thiệu sơ sơ về ba nhân vật chính trong ngôi nhà là An Mỵ nghe hoảng kinh hồn vía, song giờ có muốn lui cũng không còn đường rút.

Thấy con bé cứ đứng bất động như vậy, dì Hai lại nhắc nhở:

− Con đừng thụ động quá không tốt, phải tập trung nhanh nhẹn lên một chút. Nhất là trước cô Ba mà con cứ đứng ì ra như vậy thì không ổn lắm đâu đó. Vả lại, những lúc có bạn bè cô Ba tới nhà chơi, con phải lanh lẹ lên một chút, để cổ có sai biểu chuyện gì hãy cố làm cho tốt, nghe chưa?

Nói xong, bà quay lại nhìn thấy mặt con bé xanh xao như mất hết hồn vía vẻ hoang mang cực độ, nên bà vội nói thêm như để trấn an:

− Dì nói thì nói vậy để con làm tốt công việc, kẻo người ta quở trách mình thôi, không phải hù nhát để con sợ đến thất thần như vậy đâu.

An Mỵ gật đầu dạ nhỏ, chớ thật ra làm sao cô không hoang mang lo sợ cho được. Dì Hai nói ông chủ rất độ lượng nhưng biết đâu được… Còn cậu chủ nghe nói rất khó khăn nghiêm khắc, mà người có tính cách này thường hay kiêu căng tự phụ coi người khác chẳng ra gì đâu.

Cô chủ thì trẻ con lại kiêu kỳ, ba người ba tính cách khác nhau như vậy, biết đường nào chiều cho vừa lòng đẹp dạ hết cả ba đây.

Nhìn nhìn cô một chút, dì Hai lại nói:

− Mai mốt con nói chuyện cũng phải nói lớn lớn một chút, để khi chủ hỏi mà con cứ cái kiểu ậm ừ lí nhí trong miệng như vậy cũng bị rầy nữa đó. Bây giờ con vào tắm rửa rồi thay đồ ra đi cho mát mẻ.

An Mỵ đưa mắt nhìn dì Hai, giọng buồn rầu sũng nước:

− Quần áo con bị mất hết rồi còn đâu mà thay. Cũng may lúc ra đi con lựa bộ 'chiến' nhất này để mặc. Nếu không, lúc nãy mất luôn bộ này chắc là tiếc lắm. Dì biết không đây là bộ đồ kỷ niệm duy nhất của mẹ con để lại đó.

Bấy giờ dì Hai mới chợt nhớ ra con bé mất bọc quần áo lúc trên xe. Bà chợt nhắm mắt lại nghe trong lòng cuộn lên nỗi xốn xang quặn thắt - Trời hỡi, có nghe con bé nó nói không! Bộ đồ nó đang mặc trên người đây là bộ 'chiến nhất' trong các bộ nó đã làm mất, vậy mà bà thấy nó còn tệ hơn cái nùi giẻ lau sàn nhà của chủ. Vậy những bộ kia không biết còn tệ đến cỡ nào. Nhưng không tệ làm sao được, mẹ con bé mất cách nay đã năm năm rồi còn gì.

Bà đưa mắt nhìn con bé trước mặt cách thương tâm rồi nhỏ nhẹ bảo:

− Để ngày mai dì đi chợ mua cho con vài bộ đồ có mà thay đổi cho tươm tất. Giờ con đi tắm rửa rồi lấy đỡ bộ đồ của dì mà mặc.

An Mỵ giật mình xua tay lia lịa:

− Thôi! Dì đừng mua chi tốn tiền. Hơn nữa, con cũng đâu có đồng nào dính túi. Dì coi lựa bộ nào cũ cũ cho con một bộ thay đổi là được rồi.

Mắt rưng rưng, dì Hai vuốt tóc cô:

− Không sao đâu! Ở đây quần áo may sẵn người ta rao bán hàng ngày đầy dẫy ngoài chợ, giá cả lại không mắc lắm đâu mà con lo.

Buổi tối, dì Hai dẫn An Mỵ lên nhà lớn gặp ông chủ. An Mỵ bước chân theo dì Hai mà trong lòng bỗng dậy lên nỗi lo sợ vu vơ.

Lúc vừa bước chân lên bậc tam cấp, An Mỵ hơi khựng lại, cô nhìn thấy một người đàn ông dáng cao lớn sang trọng độ ngoài sáu mươi ngồi trên bộ ghế xa lông hình ô- van được đặt giữa phòng khách rộng thênh thang.

Dì Hai nắm tay cô bước đến trước mặt người đàn ông mà dì gọi là ông chủ, cất tiếng lễ phép:

− Thưa ông, tôi đã lên từ chiều.

Giờ ông chủ mới quay lại, một gương mặt đàn ông vuông vắn phúc hậu, tuy lớn tuổi nhưng vẫn còn rất tráng kiện phong độ. Ông nhìn qua dì Hai, mỉm cười dễ dãi rồi nói:

− Tôi có nghe chú Bảy nói lúc sáng kỳ này chị lên trễ vậy?

Dì Hai trả lời ông với vẻ hơi rụt rè:

− Tôi bận chút chuyện dưới quê nên lên hơi trễ, mong ông chủ thông cảm.

Ông xua tay cách dễ dãi rồi nhìn qua An Mỵ hỏi:

− Còn cháu đây là ai?

− Nó là con cháu kêu tôi bằng dì. Dưới quê túng cùng nghèo khổ quá, tôi dẫn nó lên đây, mong ông chủ thương tình sắp xếp cho nó một công việc làm, để nó có được hai bữa cơm no đủ sống qua ngày.

Ông chủ lại nhìn An Mỵ, cười độ lượng:

− Không có gì đâu, chị đừng quan trọng hoá vấn đề như thế! Nhà cửa vườn tược rộng thênh thang như vầy thì thiếu chi công việc để làm. Chị cứ chia bớt một phần công việc cho nó làm là được rồi.

Nghe ông chủ nói vậy, trong lòng An Mỵ mừng khấp khởi. Mà hình như dì Hai còn mừng hơn cô gấp bội, dì cứ luôn miệng cám ơn ông chủ lia lịa, trong khi An Mỵ đứng chôn chân, cứng đờ líu lưỡi không nói được tiếng nào, chắc tại quá vui mừng nên bao nhiêu ý nghĩ trong đầu cô bay đi đâu mất hết cũng nên. Như hiểu được tâm trạng của cô lúc bấy giờ, dì Hai quay qua nhắc nhở:

− Sao con không cám ơn ông chủ đi An Mỵ.

− Con cám ơn ông chủ ạ.

An Mỵ thực hiện lời dì Hai như một cái máy, lại vội vàng cách gì không biết mà lúc cô gật đầu để tạ ơn ông chủ, đầu cô bị va vào thành ghế ông chủ đang ngồi. Cũng may chiếc ghế làm bằng nệm muốt rất êm. Nếu không, hổng chừng cô bị u một cục trên đầu rồi. An Mỵ chợt nghe hơi lo cho sự đểnh đoảng, hậu đậu của mình nên lấm lét đưa mắt liếc chừng ông chủ, song ông chủ chẳng những không rầy mà còn có vẻ rất quan tâm:

− Cháu có sao không?

An Mỵ ngước vội lên lắc đầu mà lia lịa:

− Dạ, cháu không sao ạ!

Lúc này ông Định mới nhìn kỹ được khuôn mặt của con bé và nhủ thầm: con bé có đôi mắt đẹp quá, nhưng cũng thật buồn, có lẽ do vậy nên số kiếp nó mới long đong.

Ông lại nhìn qua dì Hai, nói nhẹ nhàng:

− Thôi, chị về nghỉ ngơi đi mai còn làm việc.

Dì Hai và An Mỵ chào ông chủ rồi lui bước ra ngoài.

Buổi sáng, An Mỵ dậy thật sớm. Làm vệ sinh cá nhân xong, cô lấy chiếc khăn rằn của dì Hai đội lên đầu, rồi cột luôn xuống cằm cho ấm. Lúc bấy giờ mới có năm giờ sáng nên trời còn tờ mờ chưa sáng hẳn. An Mỵ xuống nhà bếp tìm cây chổi, bởi đêm qua dì Hai căn dặn cô rất kỹ, sáng sớm quét sân trước mới làm chuyện lặt vặt trong nhà và dọn dẹp các phòng ốc sau cùng.

Đang lom khom quét mớ lá rụng trước sân, An Mỵ chợt giật bắn người, đánh rơi luôn cây chổi xuống đất bởi một giọng nói đàn ông trầm trầm lành lạnh cất lên ở phía sau:

− Sao hôm nay dì Hai quét sân sớm vậy?

An Mỵ ngẩng đầu nhanh vì ngỡ ông chủ đã nhận lầm. Nhưng An Mỵ bỗng nghệch mặt ngỡ ngàng, vì trước mặt cô là một người đàn ông lạ hoắc hãy còn rất trẻ. Tuy trời chưa hẳn, song khoảng cách khá gần nên An Mỵ nhìn ra người này không phải là ông chủ mà cô gặp tối hôm qua.

Người đàn ông dường như giờ cũng đã nhận ra cô không phải dì Hai, một thoáng bất ngờ lựng khựng, rồi cũng thật nhanh người đàn ông lấy lại phong cách thản nhiên nhưng vẫn im lìm nhìn An Mỵ chớ không nói gì.

Hồi lâu như tỉnh hồn, An Mỵ thầm suy đoán nhà chỉ có ba người, mà ngoài ông chủ ra chỉ có cậu chủ là đàn ông thôi chớ chẳng ai khác. Nghĩ vậy nên An Mỵ hơi cúi đầu như chào, rồi nói cách lễ phép:

− Thưa cậu, tôi là cháu của dì Hai mới từ dười quê theo dì lên đây hôm qua.

An Mỵ chỉ thấy cậu chủ gật đầu rồi quay lưng đi trở vào trong một cách thờ ơ lạnh nhạt.

Bất chợt, An Mỵ cũng thở khì nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân. Nãy giờ cô sợ muốn đứng tim luôn. Bởi từ lúc mới vừa đến đây là dì Hai đã nhồi nhét vào cô những ý nghĩ không được hay mấy vào bộ nhớ của cô rồi, nào cậu chủ rất khó khăn khắc nghiệt, lại rất kỹ tính và hay nổi giận khi bị nghịch ý, nên lúc nãy gặp cậu chủ, An Mỵ rất… rất là căng thẳng. Vậy mà giờ cô lại thấy cậu chủ cũng bình thường như bao nhiêu người khác chớ có gì ghê gớm lắm đâu.

Như giải toả được nỗi thắc mắc trong lòng. An Mỵ chợt nghe tinh thần phấn chấn hơn lên, vừa cầm cây chổi quét tiếp khoảng sân còn dang dở, An Mỵ vừa ngân nga nho nhỏ một khúc nhạc tình cờ cô đã nghe được khá lâu rồi thì phải.

'Đố ai… đố ai quét sạch ơ.. lá rừng

Để tôi… để tôi khuyên gió… ơ… ớ…

Gió đừng… gió đừng… rung cây…

Gió đừng rung cây…

Đứng trong nhà nhìn ra, dì Hai thấy con bé vác cây chổi trên vai nhảy chân sáo vào nhà với gương mặt tươi rói. Dì Hai mỉm cười hỏi vọng ra:

− Có chuyện gì mà coi con vui vẻ ra mặt vậy? Sáng giờ đã quét sân chưa mà xem bộ dạng nhàn rỗi vậy?

An Mỵ gật đầu tủm tỉm:

− Con đã quét sân rồi, còn quét rất sạch nữa.

Nói đến đây, An Mỵ chợt hạ giọng như thì thầm:

− Hồi nãy lúc con đang quét sân dì biết con gặp ai không?

Dì Hai nhìn cô lấy làm lạ hỏi nhanh:

− Con gặp ai?

− Con gặp cậu chủ.

Hơi giật mình, dì Hai hỏi lại:

− Con gặp ở đâu và cậu ấy có nói gì không?

− Con gặp cậu ở trước sân và cậu còn gọi con là dì Hai nữa chớ…

nói đến đây cô bé lại cười khúc khích trông thật hồn nhiên làm dì Hai cũng phải cười theo, trong lòng thương thương, thầm nghĩ: Ở lứa tuổi này rồi mà con bé còn vô tư trong sáng quá, bị cậu chủ nhận nhầm với một bà già, vậy mà nó chẳng biết quê hay xấu hổ là gì, còn khoái chí cười vui nắc nẻ nữa chứ.

Cái cách ngây thơ vô tư lự của con bé đã khiến dì Hai suýt rơi nước mắt. Có lẽ do cuộc sống quá cơ cực bần hàn nên con bé cũng giống như loài hoa dại mọc ở ven đường, đơn sơ mộc mạc với tâm hồn thanh khiết trắng trọng, chả màng chi đến thế thái nhân tình. Vậy mà người đời sao quá nhẫn tâm, nỡ bắt ép con bé đi lấy chồng khi bản thân nó còn chưa ý thức được sự trưởng thành đang phát triển dần trong cơ thể.

Dì Hai chợt qua đi thở dài rồi cất tiếng êm đềm:

− Thôi, con ở nhà coi dọn dẹp trong ngoài đi, dì đi chợ kẻo trễ.

Đợi tất cả mọi người trong nhà đều ra ngoài làm việc hết, An Mỵ mới khệ nệ xách một xô nước còn muốn to hơn thân hình nhỏ bé của cô lên lau chùi dọn dẹp các phòng óc.

Bắt đầu từ phòng ông chủ, căn phòng ngăn nắp gọn gàng đầy đủ tiện nghi nhìn hoài không biết chán. Nhớ lại dì Hai dặn, An Mỵ lau chùi cẩn thận từ nơi rộng rãi đến chỗ chật hẹp nhất, có khi phải chui xuống cả gầm giường hay bàn tủ, song An Mỵ cũng không thấy cực nhọc bằng ở nhà, vì ở đây còn có thời gian rảnh rỗi để nghỉ ngơi, chớ không phải quần quật suốt ngày đến tối tăm mặt mũi.

Đến phòng cậu chủ thì lại khác, cách bài trí trang hoàng cũng mỹ thuật và đẹp mắt hơn nên vừa làm việc, An Mỵ vừa ngắm nhìn cho đã mắt. Cái gì nơi đây đối với cô cũng đều mới mẻ lạ mắt khiến An Mỵ cứ xuýt xoa và nghĩ thầm: làm một cậu ấm con nhà giàu sang ngẫm ra sung sướng thật. Một dàn máy vi tính hiện đại tối tân, một chiếc giường nệm Hồng Kông loại đắt giá nhất đương thời và còn những thứ khác lạ lẫm hơn mà An Mỵ chưa được nhìn thấy bao giờ, hoạ chăng có biết được cũng qua chương trình quảng cáo của đài truyền hình mà lâu lâu mới được coi ké ở nhà hàng xóm.

Đối với An Mỵ mọi thứ chỉ có trong giấc mơ, thế nên không làm sao ngăn được cô không mơ ước, giá như chỉ được ngả người trên chiếc giường nệm kia chừng ít phút thôi có lẽ chắc là êm ái lắm đấy. Song nói gì đi nữa đó cũng chỉ là một ý nghĩ trong sự tưởng tượng, chớ thực tế có cho vàng An Mỵ cũng không dám ngả người trên chiếc giường sang trọng đó, vì chủ nhân của nó lại là một người đàn ông nghiêm khắc đến khó ưa.

Nói chung, mọi thứ trong phòng cậu chủ đều sang trọng lạ mắt cả, mà trong mơ An Mỵ còn chưa chắc ngó thấy. Song An Mỵ mê nhất vẫn là cái kệ sách của cậu chủ, hầu như ở đó không thiếu một loại sách quý hiếm nào nên An Mỵ biết nó rất mắc, chỉ cần bấy nhiêu tiền mua sách thôi có thể bằng cả một gia tài to lớn đối với một người nghèo khổ như An Mỵ rồi. Có lẽ cậu chủ phải bỏ công sức sưu tầm trong một thời gian khá dài đây mới có thể tập hợp ngần ấy các loại sách, nhìn kệ sách to chiếm gần nửa căn phòng đủ biết.

Vừa làm việc, An Mỵ vừa ngắm nhìn đã mắt chớ không dám động tay vào, bởi lời dặn dò của dì Hai còn văng vẳng bên tai…

Đến phòng cô Ba Kiều Chinh, An Mỵ thật ngợ ngàng và phát rầu thúi ruột, bởi đồ đạc lộn xộn, mền gối lộn tùng phèo, tập sách thì quẳng tung toé khắp nơi, nhìn vào giống cái tiệm bán hàng xén của chú Ba Tàu ngoài đầu ngõ đường vào nhà An Mỵ ở dưới quê, hơn là căn phòng sang trọng của cô tiểu thư nhà quyền quý, dọn xong căn phòng cô chủ nhỏ, An Mỵ mệt muốn đứt hơi luôn.

Ấy vậy mà vừa 'tha' xô nước xuống cầu thang, thì tiếng chuông ngoài cổng lại reo lên inh ỏi, buông xô nước xuống đất, An Mỵ lật đật chạy ra mở cổng. Vừa đi, An Mỵ vừa càu nhàu:

− Ông chủ nhà này keo kiệt thật, ngôi nhà rộng thênh thang thế này mà chỉ mướn hai người làm, dì Hai chú Bảy giờ có thêm cô nữa mới được ba người. Vậy không hiểu lúc trước dì Hai và chú Bảy làm sao quán xuyến hết ngần ấy những công việc lặt vặt thế này, vì sáng sớm là dì Hai phải đi chợ, chú Bảy phải chở ông chủ đi làm…

Nghĩ đến đây cũng vừa lúc An Mỵ ra tới cổng. Mãi lo suy nghĩ lung tung nên lúc cô vừa kéo cánh cổng ra, thì bất chợt bốn năm chiếc xe máy 'dzọt' vào sân với vận tốc khá lớn, khiến cô hoảng kinh và trái tim cũng muốn nhảy luôn ra ngoài. Nếu không kịp thời né qua một bên chắc cô đã bị mấy chiếc xe kia tông thẳng vào người rồi. Và nếu chuyện đó xảy ra thì giờ đây cô đâu còn đứng được ở đây để mà run sợ nữa. Song vì đem thân đi làm thuê ở mướn cho người ta nên cô đâu dám hé môi phàn nàn hay cự nự. Cố nhịn nhục, An Mỵ im lặng khép cửa lại rồi lầm lũi quay vào.

An Mỵ vừa bước vào ngưỡng cửa phòng khách, chợt đám bạn của cô chủ trai gái bảy tám người phá ra cười nghiêng ngả làm mặt An Mỵ nghệch ra ngỡ ngàng trông thật tội. Nhưng ngay tức khắc cô cũng kịp hiểu được, vì sao cô bị họ cười dữ như vậy. An Mỵ nghe đau còn hơn vừa bị ai đấm vào ngực muốn tức thở. Cô khựng lại ngay trước họ, hơi cúi đầu, môi khá chặt, cái cách ngớ ra của An Mỵ càng khiến họ cười dữ hơn.

Cô chủ Kiều Chinh chợt bước ra đứng trước mặt An Mỵ, giọng quyền hành xấc xược:

− Mày làm gì có mặt ở đây? Còn dì Hai thì đâu?

An Mỵ cố trấn tĩnh trả lời:

− Tôi đang lau chùi dọn dẹp nhà cửa nên có mặt ở đây. Còn dì Hai thì đi chợ chưa về.

Bỗng đám bạn của cô chủ lau nhau mỗi người một câu xúc phạm:

− Kiều Chinh! Cô lượm được con nhóc này ở đâu mà kinh dị quá vậy?

Một tên con trai trong nhóm tiếp lời:

− Bộ hết người để mướn rồi hay sao, bạn mướn chi con nhỏ ở gớm ghiếc, làm bọn này không 'xơ múi' gì ráo trọi.

Tiếp theo là tiếng một đứa con gái eo éo:

− Bạn nhặt con bé này ở hố rác hả Chinh?

Nói xong, cả đám lại rộ lên một tràng cười hô hố một cách cợt đùa nham nhở.

An Mỵ cố nén tủi hờn nuốt ngược nỗi đắng cay để đừng phải bật khóc trước mặt những người nhìn bề ngoài lịch lãm, trí thức sang trọng mà nói năng vô ý thức, thiếu văn hoá đến thế là cùng.

Chút sau, cô ngước nhìn họ và để ý thấy trong đám bát nháo bạn của cô chủ có một gã đàn ông hơi lớn tuổi hơn, gã vẫn im lìm ngồi hút thuốc chớ không cười đùa hay trêu chọc cô như họ.

Thật lâu sau, mọi chuyện như đã lắng xuống, không ai nói gì thêm, bỗng gã đàn ông đó đứng lên tiến đến trước mặt cô, phán một câu tỉnh rụi.

− 'Bà trẻ' sao không xuống nhà sau thay quần áo đi!

Lại thêm một trận cười ồ như vỡ chợ để tán thưởng câu nói có vẻ rất chí lý vừa rồi của gã một cách nhiện liệt.

An Mỵ lại một lần nữa kềm nước mắt, cắn chặt môi, cố bước nhanh đến chân cầu thang, phải khó khăn lắm cô mới nhấc nổi xô nước ra sau nhà.

Buổi trưa rảnh rỗi, An Mỵ thả bước ra vườn. Cô nghe trong lòng chợt cuộn dâng nỗi nhớ cho nhớ đứa em nhỏ hơn cô tám tuổi còn ở quê nhà da diết. Mọi chuyện xảy ra với cô giống như một giấc chiêm bao. Vậy là cô bé An Mỵ nhút nhát ngày một thân một mình tìm kế sinh nhai, mà điều chính yếu là chạy trốn một cuộc hôn nhân do gia đình ép buộc.

Tính từ ngày cô rời bỏ quê nhà ra đi đến nay đã gần được một tuần. Hôm qua dì Hai còn khen cô đã bớt xanh xao và tươi tắn hơn một chút. Lúc này An Mỵ cũng đã gọn gàng tươm tất hơn nhờ những bộ quần áo dì Hai mua cho. Hôm qua dì còn mua bồ kết trái về dạy cô gội đầu. Dì bảo tóc cô dài và đen như vầy mà không chăm sóc để nó cháy vàng đứt ngọn thì thật uổng phí.

Thật vậy, cô chỉ gội bằng bồ kết được có mấy lần mà tóc cô đã bóng mượt và đen hơn ngó thấy.

Cứ suy nghĩ vẩn vơ nên bước chân vô tình đưa An Mỵ đến căn phòng bị bỏ trống đã lâu, nay dành làm nơi đọc sách. Đến lúc cô bỗng nghe tiếng đàn ông trầm trầm đều đều cất lên cô mới giật mình khựng lại. Hình như ông ta đang giảng giải một bài tập toán thì phải. Hơi tò mò, An Mỵ nhẹ nhàng đến bên cửa sổ bằng kính, rồi chợt hoảng hốt, cô hụp trở xuống khá nhanh. Vì cô vừa nhìn thấy gã đàn ông đáng ghét hay cợt đùa cô hôm nọ đang cầm viên phấn viết lia lịa trên tấm bảng đen được treo giữa phòng trên bức vách tường, mà ở phía dưới chỉ có một cô học trò, đó là cô chủ Kiều Chinh.

An Mỵ nghiêng đầu nghĩ ngợi. Chẳng lẽ ông ta lại là thầy giáo? Mà nếu là thầy giáo thì phải ôn hoà nghiêm nghị, chớ có đâu cứ theo giễu cợt người khác kiểu đó.

Nhưng hôm nay ông ta trông chững chạc ra phết trong bộ quần áo nghiêm chỉnh, chớ không có gàn gàn bụi bặm như hôm trước đi chung nhóm. Như vậy thì ông ta phải là bạn bè cùng lớp hoặc cùng trường chớ làm sao trở thành thầy giáo được. Bao câu hỏi cứ đan xen, xoay tít trong đầu khiến An Mỵ bó tay không thể nào hiểu nổi.

Bỗng tiếng dì Hai gọi lớn khiến An Mỵ giật bắn, rồi vội vã biến nhanh về nhà sợ dì la, bảo cô tò mò lắm chuyện. Dì Hai đứng trước cửa như chờ đợi. Thấy cô, dì nói ngay:

− Con làm hai ly nước chanh đem ra phòng đọc sách cho cô chủ và cậu Khôi đi.

Bấy giờ An Mỵ mới biết ông ta tên Khôi và còn là một ông thầy giáo nữa chớ. Cái tên cũng giống người, vừa ngang tàng vừa kỳ cục chẳng giống ai. Nhủ thầm như vậy, rồi An Mỵ cũng đi ngay vào bếp. Dì Hai lại nói với theo như vừa mới sực nhớ ra.

− Làm thêm một ly cam tươi bưng lên phòng cho cậu chủ!

Bỗng An Mỵ nghe bước chân mình hơi chùn lại, bởi cứ nhắc đến cậu chủ là trong lòng An Mỵ lại dậy lên nỗi lo sợ vu vơ. Hôm nay bộ cậu chủ không đến bệnh viện sao cà? Thắc mắc vậy chớ An Mỵ đâu dám hỏi dì Hai. 'Chuyện không liên quan đến mình thì không nên dây vào chỉ thêm rắc rối', dì Hai thường bảo cô như vậy.

Dù ở đây mới có một tuần nhưng ít nhiều gì An Mỵ cũng hiểu được phần nào cuộc sống của những thành viên trong gia đình này, hầu như mỗi người đều có cuộc sống riêng tư, luôn lạnh lùng khép kín. Đôi lúc cô thấy không khí trong nhà trở nên u buồn tẻ nhạt như bãi tha ma, cũng như gương mặt đóng băng của cậu chủ vậy. Nên cứ mỗi lần gặp cậu, hỏi sao cô không sợ chết khiếp, dù biết mấy khi cậu chủ để mắt tới mình. Trừ những lúc sai bảo hoặc rầy la chuyện gì, cậu mới chịu mở miệng. Chắc một phần cũng do ảnh hưởng những câu nói của dì Hai đã gieo vào đầu An Mỵ lúc cô mới chân ướt chân ráo đến đây và vụ cái đĩa CD hôm nào ám ảnh đến nay.

An Mỵ làm nhanh hay ly nước chanh bưng lên phòng đọc sách trước. Gõ nhẹ cánh cửa phòng, cô ước vào một cách cẩn thận. Hôm nay ông thầy giáo 'mày râu nhẳn nhụi, áo quần bảnh bao'. Trong bộ đồ tây lịch thiệp, quần Hàn Quốc nâu đậm, áo sơ mi dài tay màu xanh đậm cũng gọi là xanh Hàn Quốc đúng muốt thời thượng được 'tấn mùng' khá kỹ càng, nhìn ông càng lạ hẳn.

An Mỵ bước đến đặt ly nước trước mặt cô chủ mời nhỏ nhẹ, rồi quay qua đặt xuống trước mặt ông thầy giáo một ly. Cô bắt gặp ánh mắt ông ấy nhìn cô hơi lạ. Song An Mỵ phớt không muốn tìm hiểu nguyên nhân, cũng như muốn tránh tất cả những cái nhìn tương tự có thể mang phiền phức, đau khổ đến cho mình. Bởi cô và họ ở vào hai thế giới khác nhau, mà dẫu có mơ cô cũng không hoà nhập được. Làm xong nhiệm vụ của mình, An Mỵ bước nhanh ra ngoài không quên rút kinh nghiệm khép nhẹ cánh cửa phòng trước khi lui gót.

Đến phòng cậu chủ, An Mỵ không thể bình tĩnh đứng trước cánh cửa phòng khép kín, cô tưởng tượng như đang đứng trước cánh cửa dẫn xuống địa ngục dễ sợ. Lắng tai nghe tiếng gõ lách tách đều đều trên bàn phím vi tính, An Mỵ hít mạnh vào buồng phổi một hơi khá đầy trước lúc đưa tay gõ nhẹ vào cánh cửa.

Tiếng cậu chủ vang lên trầm trầm lạnh lẽo như vọng lên từ đáy giếng.

− Vào đi!

Bước vào phòng, An Mỵ đặt ly nước lên bàn, nói nhỏ giọng run run:

− Mời cậu chủ uống nước.

Cậu chủ hơi ngẩng lên nhưng chỉ nhìn ly nước chớ không nhìn cô. Thấy cậu chủ hơi nhíu mày, chỉ là cái nhíu mày thôi mà quả tim cô như đang tuột thấp xuống dần trong lồng ngực, rồi giọng cậu chủ cất lên cách bực dọc:

− Sao không lót miếng bông thấm dưới đáy ly?

An Mỵ nghệch mặt, vì nào giờ cô có biết miếng bông thấm tròn méo ra sao đâu, rồi cô cũng nói:

− Thưa cậu, tui có lót cái đĩa rồi.

Bách Niên gắt gỏng:

− Lại trả treo! Không lót miếng bông đó, nước sẽ thấm ướt bàn làm việc của tôi, cô hiểu chưa?

An Mỵ hoảng hồn chối biến:

− Tui đâu dám trả treo với cậu. Vậy để tui đi lấy.

Dứt câu, An Mỵ vội vàng qua cửa nhưng vừa đến bên ngoài cô lại nghe cậu chủ quát lớn:

− Sao không đóng cửa phòng lại cho tôi!

An Mỵ lại phải lật đật quay trở lại đóng cửa, vô tình động tác quá nhanh khiến cánh cửa bị va mạnh phát ra tiếng 'ầm' khá lớn, làm An Mỵ cũng giật thót. Tiếp theo sau là tiếng cậu chủ quát tháo ầm ĩ, rồi tuôn ra một câu khá nặng nề mà có lẽ mãi đến sau này An Mỵ cũng không thể nào quên:

− Đúng là nói chuyện với mấy người dốt nát cũng như 'đàn khảy tai trâu' vậy.

An Mỵ đứng tựa lưng vào tường cho khỏi ngã, mắt nhắm nghiền nghe niềm đau chảy tràn vào từng mạch máu, cuối cùng dẫn đến trái tim nhỏ bé đớn đau cùng cực khiến An Mỵ tức nghẹn đến rã rời. Mãi một lúc sau An Mỵ mới thấu hiểu, bước đi mà đầu óc còn quay cuồng choáng váng.

Bắt gặp cô như vậy ở cửa bếp mặt xanh xao đến tội, dì Hai thảng thốt kêu lên:

− Trời ơi! Sao mặt con xanh mét vậy An Mỵ? Con bị trúng gió rồi phải không?

An Mỵ lắc đầu không nói. Rồi như sực nhớ ra, cô quay qua dì Hai, hỏi:

− Miếng bông thấm nước lót dưới đáy ly đâu hả dì?

Dì Hai chỉ cho cô và cũng chợt hiểu vì sao con nhỏ bị như vậy. Cậu chủ nhà này rất kỹ tính, mỗi lần đem nước lên cho cậu dù nóng hay lạnh đều phải có miếng vải mềm hình tròn lót dưới đáy ly để nước không phải thấm qua bàn nơi cậu làm việc.

Nhưng lúc con bé bưng nước lên cho cậu bà quên không nhắc nó, nên lúc này đây bà nghe xót xa ray rứt khi thấy nó bị cậu chủ rầy oan.

An Mỵ lại trở lên lầu lần nữa. Cố lắm cô mới dám đưa tay gõ vào cánh cửa, song lần này cậu chủ không bảo cô vào chỉ hỏi vọng ra cách tức giận:

− Ai vậy?

− Thưa, là tui đây cậu chủ.

Hình như cậu chủ đoán biết cô lên làm gì nên cậu gạt ngang cách giận dữ.

− Thôi, không cần!

An Mỵ nghe đắng ngắt ở cổ. Chôn chân tại chỗ một lúc, An Mỵ mới nhấc nổi đôi chân quay trở xuống.

Vậy mà lần đầu mới gặp mặt, An Mỵ đã chủ quan không tin cậu chủ lại nghiêm khắc khó khăn như lời dì Hai nói, có lẽ An Mỵ cũng bị choáng bởi dáng vẻ lịch lãm cao sang bên ngoài của cậu chủ để giờ đây mới thấy bẽ bàng chua chát. Cô cứ nghĩ người có học thức, địa vị trong xã hội, hơn thế nữa lại là một bác sĩ thì cách đối nhân xử thế cũng cân nhắc, nhẹ nhàng chớ có đâu nặng nề thô thiển như thế này.

An Mỵ lại tự nhủ: kể từ bây giờ hãy giả câm giả điếc, giả mù để khỏi phải nhìn thấy cái nhìn khinh miệt và những câu nói nặng nề như búa bổ vào đầu không cần cân nhắc.

Mới đó mà đã hơn nửa tháng, An Mỵ xa nhà. Thời gian đối với cô sao dài vô tận vì nỗi nhớ người thân từng đêm nhức nhối con tim. Cô muốn về thăm cha cùng đứa em ruột thịt, song lại sợ một lần nữa không mong gì thoát khỏi bà mẹ kế ác độc, xảo trá mưu mô, không từ bất cứ một thủ đoạn nào miễn phần lợi lộc chạy vào cái túi tham không đáy của bà. Nghĩ đến đây, An Mỵ lại thở dài xót xa thân phận.

Cô không có ý ganh tỵ với đứa em trai của mình, nhưng hình như từ lúc cô bắt đầu biết nhận thức được mọi chuyện, bao nhiêu tình thương cha đều đổ dồn hết cho đứa em trai. Còn với cô, ông đối xử lợt lạt, ít quan tâm. Cha chưa hề nói với cô một câu dịu dàng, đằm thắm tình phụ tử, giống như cô là một đứa con ngoài giá thú không bằng. Thế nên, dù bà mẹ kế cho đối xử nhẫn tâm với cô ra sao, ông cũng không hề quan tâm. Lâu dần, An Mỵ như cũng chai sạn với nỗi bất hạnh của cuộc đời mình.

Nên dù có cực nhọc đến đâu cô cũng cắn răng chịu đựng miễn sao quấy quá ngày được hai bữa cơm để còn sức lực đến trường trau dồi kiến thức, lấy đó là niềm an ủi lớn lao đối với cô rồi.

Bởi đã đến tuổi trưởng thành mà hình hài An Mỵ nhỏ choắt chiu như đứa trẻ bị suy dinh dưỡng nên ở trường, tụi bạn đặt cho cô biệt danh 'Mỵ còi' cũng đâu có oan ức gì.

Gần đây, An Mỵ còn dò dẫm biết được cô Kiều Chinh nhờ thầy Khôi ôn luyện bài vở chuẩn bị thi đại học vào kỳ thi tới, An Mỵ chợt ước ao thầm mình cũng được đi học lại và được thi vào đại học như cô chủ thì hạnh phúc biết dường nào. Hồi còn học cấp ba, An Mỵ học rất giỏi, năm nào cô cũng được lãnh bằng khen và lãnh thưởng. Giá như được đi học lại, nhất định An Mỵ sẽ thi đổ. An Mỵ còn nghe nói cô Kiều Chinh đã dự thi đại học ba kỳ rồi mà không đậu nổi.

Thầy Khôi cũng không phải là một thầy giáo chuyên nghiệp, mà ông ta là một luật sư khá tiếng tăm, có văn phòng luật sư riêng tại trung tâm thành phố hẳn hòi, nhưng vì là bạn rất thân với cậu chủ Bách Niên, nên ông ấy vị tình đến kèm cặp vào những giờ rảnh chớ không nhất thiết qui định giờ giấc nào rõ rệt.

Tiếng dì Hai bỗng cất lên làm gián đoạn dòng suy nghĩ của An Mỵ:

− Làm gì con ngồi một mình ngoài này có vẻ thẫn thờ vậy? Lại nhớ nhà rồi phải không?

An Mỵ gật đầu, giọng buồn hiu hắt:

− Nhớ nhà thì cũng có nhớ, mà con còn đang suy nghĩ đến một chuyện khác nữa.

− Chuyện gì?

− Con đang ước gì mình được đi học trở lại.

Dì Hai nhìn cô cách xót xa, thông cảm, chợt thở dài:

− Dì thấy hơi khó đấy, ban ngày bận công việc tất bật, chỉ còn mấy tiếng đồng hồ ban đêm rảnh rỗi mới được nghỉ ngơi đôi chút, rồi thời gian đâu mà học với hành.

Ngừng lại một chút, dì Hai chợt hỏi:

− À! Mà hồi đó ở dưới quê, con nói con học đến lớp mấy mới nghỉ?

− Dạ, con học hết cấp ba rồi đó dì.

Dì Hai chắt lưỡi lắc đầu cách nuối tiếc như nói với chính mình:

− Tiếc thật! Nếu được sinh ra trong một gia đình tử tế hơn, có lẽ giờ đây con bé vẫn còn được cắp sách đến trường, chứ không long đong vất vả như thế này đâu, tội nghiệp.

Bỗng như đã quyết tâm một điều gì, An Mỵ móc trong túi áo lấy ra tờ tiền hai chục ngàn bị nhàu nát, cô vuốt lại ngay ngắn đưa cho dì Hai, nói:

− Ngày mai dì đi chợ mua giùm con vài quyển tập và một cây viết nghe dì?

Dì Hai ngạc nhiên nhìn cô:

− Chi vậy? Mà số tiền này ở đâu con có?

An Mỵ tủm tỉm:

− Dạ, tiền này là của ông chủ cho con mấy hôm trước nhưng con để quên trong túi áo, đến nỗi giặt đồ cũng không nhớ lấy ra nó mới bị bèo nhèo như vầy. Con đã nghĩ kỹ lắm rồi, con sẽ mua sách vở về nhà tự học.

Dì Hai nhìn cô vẻ nghi ngờ:

− Được không đó?

− Con nghĩ nếu cố gắng sẽ được.

Thấy con bé có vẻ quyết tâm quá, dì Hai cũng không nỡ làm nó thất vọng, dì nói cách gượng gạo:

− Ngày mai dì sẽ dẫn con đi chợ cho con mua, chứ dì đâu có rành mấy chuyện này. Dì sẽ cho thêm tiền để con mua thêm ít tập sách học.

Ngừng một chút, dì lại nói:

− Mặc kệ! Không mong gì đổ đạt thành tài, nhưng có thêm mớ kiến thức để vào đời còn hơn mấy người dốt nát.

Rồi dì Hai lại lắc đầu nói như than:

− Ông trời cũng chẳng công bằng, người sao quá dư thừa, của ăn của để, còn người lại nghèo rớt mồng tơi. Mà phải chi họ biếng nhác gì cho cam, thậm chí đầu tắt mặt tối quanh năm suốt tháng, quần quật với bao nhiêu là công việc nhọc nhằn, vậy mà vẫn thiếu trước hụt sau mới tội.

Lúc này, An Mỵ lại đang liên tưởng đến hai từ 'dốt nát' mà dì Hai vừa nói với câu mắng nhiếc nặng nề của cậu chủ hôm nào, đến giờ nhớ lại An My. Vẫn còn nghe nhức nhối.

Sáng sớm hôm sau, dì Hai dẫn An Mỵ đi chợ như lời đã hứa. Từ ngày An Mỵ đến ở đây hôm nay là lần đầu tiên dì Hai dẫn cho đi chợ. Tâm trạng An Mỵ lúc này không bút mực nào tả xiết, một niềm vui phơi phới lâng lâng như chú chim non bị nhốt lâu ngày nay được sổ lồng tung cánh. Hơn nữa, một tuần rồi cậu chủ đã ra nước ngoài công tác, nghe nói đến hai ba tháng mới trở về, nên An Mỵ được rảnh rỗi phần nào và tâm trạng cũng nhẹ nhàng phấn khởi hơn lên.

Với số tiền hai mươi ngàn ông chủ cho cộng thêm ba mươi ngàn dì Hai cho thêm mà An Mỵ chỉ mua được số tập sách khiêm tốn này thôi. Chẳng bằng với cậu chú, có đến gần nửa căn phòng toàn sách là sách, vậy mà chỉ để nhìn cho bụi bám nhện giăng, chứ có khi nào An Mỵ thấy cậu mó tay vào. Dường như những người lắm bạc nhiều tiền họ thường có những kiểu chơi ngông như vậy, đồng thời như muốn tô điểm thêm sự thâm niên uyên bác của bản thân mình. Nghĩ đến đây, An Mỵ chợt lắc mạnh đầu như muốn xua đi bao nỗi bất công nghiệt ngã của cuộc đời.

Trước lúc vào chợ, dì Hai căn dặn cô khá kỹ, hễ mua xong các thứ thì đứng nép một bên cửa hiệu tập hoá đó chờ dì, nên An Mỵ đâu dám cãi lời dì mà đi đâu lung tung sợ bị lạc đường.

Vì lần đầu tiên đi chợ thành phố nên với cô mọi thứ đều lạ lùng đẹp mắt. Đang nghiêng đầu mê mẩn nhìn ngắm chung quanh, chợt tiếng xe máy thắng rít lại ngay sát một bên làm An Mỵ hoảng hồn muốn nhảy dựng, rồi giọng nói đàn ông cất trầm trầm quen thuộc:

− Đi đâu mà đứng đây lơ ngơ một mình vậy bé con, không sợ bị bắt cóc hả?

Quay phắt lại, thấy ông thầy Khôi, An Mỵ hơi lúng túng:

− Tui… tui đi chợ với dì Hai.

Lĩnh Khôi nhướng mắt nhìn cô hỏi trống không:

− Dì Hai đâu?

An Mỵ. Chỉ vào trong chợ nói nhỏ:

− Dì Hai vào chợ mua thức ăn rồi.

Lĩnh khôi nói nhanh:

− Vậy tôi mời bé qua bên kia đường uống nước, sẵn tiện chờ dì Hai luôn.

An Mỵ nghe hoảng lắc đầu lia lịa:

− Thôi, tui đứng đây cũng được rồi.

Hơi bị quê, Lĩnh Khôi nhăn mặt, rồi đột ngột ra lệnh:

− Đừng cãi, đứng đó đợi tôi!

Nói xong, anh bước nhanh qua chỗ gởi xe. Lúc quay lại anh tự nhiên nắm tay cô kéo băng băng qua đường, vừa đi vừa nói:

− Qua đây nhóc!

Ấn cô ngồi xuống chiếc ghế, anh gọi với vào trong:

− Cho một sữa tươi và một cái đen.

Anh ta nói và làm vừa nhanh vừa đột ngột khiến An Mỵ cứ nghệch mặt ra nhìn. An Mỵ chợt nghe mất bình tĩnh và xấu hổ bởi tự nhiên anh kéo cô vào đây lại còn ngồi đối diện nhau như thân thiết lắm vậy, gặp tình huống như vầy hỏi làm sao An Mỵ có thể bình tĩnh nổi.

Thấy cô cứ cúi đầu im lặng không nói, Lĩnh Khôi cất tiếng:

− Cô sao vậy, sao không nói gì?

Nghe anh ta hỏi An Mỵ như sực nhớ ra, mà dường như điều này đã âm ỉ trong cô rất lâu thì phải:

− Dạy học cho cô chủ như vậy mỗi tháng thầy tính tiền công là bao nhiêu vậy?

Lĩnh Khôi rất đỗi kinh ngạc, thắc mắc sao con bé lại hỏi anh một câu chẳng ăn nhập vào đâu thế này. Nhưng nhìn gương mặt nghiêm nghị của cô bé, anh không hiểu cô quan tâm chuyện này làm gì. Mỉm cười, Lĩnh Khôi cũng trả lời cách hơi đùa:

− Làm gì có chuyện tiền bạc ở đây, tôi là bạn rất thân của Bách Niên và cũng không phải là một ông thầy chuyên nghiệp, nên chuyện này coi như giúp đỡ bạn bè. Vì chỉ là thầy giáo bất đắc dĩ nên yêu cầu bé con đừng gọi tôi bằng thầy, nghe hơi bị 'xấu hổ'.

An Mỵ lắc đầu nói hơi ương bướng:

− Nhưng tôi thích gọi ông bằng thầy hơn

Lĩnh Khôi nhướng mày nhìn cô bé hơi lâu. Câu nói có chút ngang tàng bướng bỉnh và khá thông minh khiến Lĩnh Khôi thắc mắc liệu ở tuổi mười hai, con bé có được sự nhạy cảm thế này không, nhất là đôi mắt rất có hồn, vừa đẹp lại vừa quyến rũ lạ kỳ mà khi nhìn vào, anh thấy nó chứa đựng rất nhiều uẩn khúc. Lĩnh Khôi chợt lắc nhẹ đầu như muốn xua tan mọi ý nghĩ rối rắm trong đầu. Anh quay lại mỉm cười với cô để khoả lắp:

− Nhóc con! Lúc này tôi thấy nhóc cũng tiến bộ được chút ít rồi đó.

Bỗng cơn giận từ đâu kéo đến khiến An Mỵ nóng mũi. Gã thầy Khôi lúc nào cũng coi cô là một đứa con nít chưa sạch mũi. Tức giận, An Mỵ cộc lốc:

− Tui không phải nhóc con!

Lĩnh Khôi bật cười thoải mái bởi cách hờn giận khá trẻ con của cô bé. Nháy mắt với cô một cái cách trêu chọc, anh nói tiếp:

− Vậy thì giới thiệu tên đi, tôi sẽ không gọi nhóc con nữa. Bé tên gì, được mấy tuổi nhỉ?

An Mỵ bặm chặt môi, cúi mặt giấu vẻ bất mãn trong đôi mắt. Ông ta hỏi nghe ứa gan chưa, giống như một lão già lụm cụm hỏi đứa bé lên ba: 'Bé ơi! Con mấy tuổi rồi?'. Tức chết đi được! Với cái luận điệu dễ ghét ấy làm sao trả lời đây, kiểu coi thường đó thà cứ để gã gọi cô bằng 'nhóc con' cho rồi. Nhìn nhìn gã thầy một chút, An Mỵ lắc đầu phan ngang:

− Tui không có tên.

Vùa lúc cô nhìn thấy dì Hai bên kia đường đang dáo dác như tìm kiếm, An Mỵ ngồi bật dậy nói nhanh:

− Dì Hai ra rồi! Cám ơn thầy về ly nước, tui về trước đây.

Lĩnh Khôi chỉ gật đầu chứ không nói gì. Anh nhìn theo cái dáng lật bật nhỏ nhắn của con bé, mỉm cười lặng lẽ. Không hiểu sao lúc này anh cứ muốn gặp để tán gẫu với cô bé, dù là những câu nhăng nhít vô nghĩa không đầu không đuôi, có khi còn vớ vẩn đến buồn cười, thế mà anh lại cảm thấy vui vui.

Hình như con bé có một điểm nào đó rất cuốn hút khiến người đối diện cứ ưa muốn nhìn, nên đối với anh cũng không ngoại lệ. Có lẽ do cô bé có đôi mắt quá đẹp. Nào giờ anh đã từng quen biết bao nhiêu con gái, nhưng chưa cô gái nào có đôi mắt của cô bé.

Năm nay chính xác con bé đã được bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Với khuôn mặt, vóc dáng này nó độ chừng mười hai mười ba tuổi chẳng hơn, song dường như trong đôi mắt ấy lúc nào cũng như chứa đựng một nỗi buồn thầm kín sâu xa nào đó của một thiếu nữ đã trưởng thành, trầm lắng suy tư.

Ấn tượng ban đầu gặp con bé vẫn còn khắc sâu trong tâm khảm Lĩnh Khôi, đó là một đứa bé trong bộ áo quần xùng xình luộm thuộm trông già nua xấu xí. Lĩnh Khôi chợt tủm tỉm như giễu cợt chính mình, bởi những ý nghĩ lan man vớ vẩn vừa rồi, dẫu sao cô bé cũng chỉ một đứa con nít mà thôi.

Hai dì cháu về đến nhà cũng gần chín giờ. Lúc này An Mỵ đã thành thạo với công việc, nên dì Hai cũng không lo trễ bữa cơm trưa. Dì cháu An Mỵ chỉ cần nhanh tay một chút là hoàn tất mọi chuyện.

Hôm sau đi chợ, dì Hai lại mua thêm cho An Mỵ hai bộ quần áo mới. Hổm rày dì Hai để ý thấy mấy bộ đồ hôm trước nay đã chật căng, ngắn ngủn.

Cơm nước xong, dì Hai mới lấy đồ đưa cho cô. An Mỵ tròn mắt kinh ngạc:

− Dì mua cho con nữa làm gì, mấy bộ hôm trước con mặc còn chưa cũ nữa mà.

− Nhưng đã chật cứng và ngắn ngủn hết rồi.

An Mỵ cúi đầu đỏ mặt. Đâu phải cô không biết mình đã cao lớn và tròn ra hơn một chút. Tuy biết dì Hai rất thương mình nhưng cô đâu dám đòi hỏi nhiều hơn, vì cô đâu ngờ tình cảm dì dành cho cô vô bờ bến. Giờ đây cầm mấy bộ quần áo trên tay đủ biết dì hết dạ thương yêu chăm sóc ân cần đến thế nào.

Đưa tay vuốt tóc cô, dì âu yếm:

− Con đã lớn được rồi đó An Mỵ. Da dẻ đã có sắc hồng, thân hình cũng tròn trịa ra hơn và mái tóc cũng đã dài còn đen mượt hơn trước. Con vào thay bộ đồ dì mới mua coi có vừa vặn không.

An Mỵ cảm động nhìn dì Hai, đôi mắt đỏ hoe muốn khóc, rồi ôm mấy bộ đồ quay nhanh vào trong.

Một lúc sau An Mỵ trở ra với nét mặt ngượng ngùng. Dì Hai cũng nhìn cô hết sức bất ngờ. Giờ đây trước mặt bà là một cô thiếu nữ đẹp như tượng tạc, chứ không còn là con bé An Mỵ xanh xao, ốm yếu đến thắt ruột gan của ngày nào trên chiếc xe khách tình cờ bà bắt gặp. Dường như mặc bộ quần áo có kích cỡ lớn hơn, con bé cũng lớn hẳn ra ngó thấy.

Thấy dì Hai cứ nhìn mình trân trân mà không nói năng gì, An Mỵ mắc cỡ, cúi đầu đỏ hồng đôi má. Cử chỉ này của con bé càng khiến dì Hai ngẩn ra nhìn, bởi chưa lúc nào dì thấy nó đẹp như vậy. Với mái tóc dài đen bóng mượt mà xổ tung ôm lấy bờ vai trinh nữ, thân gầy mảnh khảnh, còn đôi mắt lóng lánh tựa mặt nước hồ thu giữa đem trăng huyền hoặc mới đẹp làm sao, nó làm cho người đối diện choáng ngợp cách êm đềm không sao gượng nổi. Từng tuổi này rồi mà bà chưa từng thấy ai có đôi mắt đẹp diệu kỳ như con bé.

Bỗng bà nghe lo một nỗi lo bất chợt, khi vừa nhớ đến câu nói của người xưa: 'Hồng nhan đa truân', bà sợ con bé phải khổ vì đôi mắt đẹp khuynh quốc khuynh thành và lúc nào cũng đầy lệ của nó. Với ý nghĩ bất hạnh đó khiến bà tự nhủ: biện pháp tốt nhất bà nên nghiêm nghị trong mọi sinh hoạt của nó và quan tâm chăm sóc nó nhiều hơn.

Sự im lặng kéo dài khá lâu làm An Mỵ lo lắng. Thật lâu, cô ngước lên nhìn. Thấy dì Hai chợt đổi thái độ cách đột ngột khiến cô khó hiểu, dường như dì đang không hài lòng một điều gì đó. Giọng bà bỗng trở nên nghiêm nghị khó khăn:

− Sau này dì nghĩ con đừng nên xoã tóc trước mặt bất kỳ ai thế này, chẳng những nó luôm thuộm mà nhìn còn thấy chướng.

An Mỵ ngỡ ngàng giương to mắt nhìn hai cách lạ lùng. Mới vừa rồi đây dì còn khen mái tóc cô mượt mà và đẹp nữa cơ mà, sao giờ dì lại chê luộm thuộm. Mà nào giờ dì cũng biết An Mỵ đâu khi nào xoã tóc, đừng nói chi những lúc phải làm việc. Tuy thắc mắc trong lòng ghê gớm song cô vẫn im lìm vấn cao mái tóc lên đỉnh đầu theo ý của dì, vì An Mỵ đã coi dì như người mẹ thứ hai nên một tiếng nói của dì như một mệnh lệnh truyền bất di bất dịch.

Bà biết lúc này con bé đang rất lạ lùng về sự thay đổi cách đột ngột của bà, nhưng bà phớt lờ coi như không hay biết. Mặc kệ con bé muốn nghĩ gì, miễn sao bà giữ được nó đừng rơi vào cạm bẫy thường tình vẫn còn sục sôi đầy dẫy ở cái nơi mà người ta cho là lối sống văn minh, hiện đại.

Một lúc nào đó con bé sẽ tự hiểu ra tình cảm bà dành cho nó còn hơn đứa con ruột thịt, tuy bà chưa được diễm phúc có một đứa con nào để thương yêu chăm sóc, từ lúc mối tình đầu thời con gái vỡ tan, cũng như bà không thể yêu một người đàn ông nào khác.

Thứ tình cảm bà dành cho con bé lúc này bà cảm nhận được, nó vừa sâu sắc dịu dàng vừa thiêng liêng như tình mẫu tử. Bà có thể hy sinh tất cả những gì bà có được, kể cả mạng sống bản thân bà cũng không ngoại lệ.

An Mỵ đứng đó với sắc mặt dàu dàu. Giờ đây nó đang đứng trước mặt bà mặc bộ quần áo mới mua vừa vặn, cùng búi tóc bóng mượt búi lên tận đỉnh đầu, mấy cọng tóc mai loà xoà buông lơi xuống vầng trán hơi vồ ra bướng bỉnh. Đôi gò má non tơ nay đã phớt hồng tròn trĩnh trông giản dị hiền hoà, song cũng không làm sao che giấu hết được nét xuân thì lồ lộ cứ thu hút tầm nhìn người đối diện, mà dẫu ai đó có bàng quan cỡ nào cũng không thể làm ngơ trước con bé được.

Biết làm sao hơn, liệu bà có ngăn cản nổi khi mỗi ngày theo qui luật tự nhiên nó phải phát triển để trưởng thành. Bà chợt thở dài, quay đi với nỗi niềm lo âu canh cánh oằn nặng trong lòng.

An Mỵ đã tự vạch cho mình một kế hoạch, nên buổi trưa lúc mọi người đã ngủ yên, cô cắp quyển tập bên nách, rón rén như tên ăn trộm lần đến căn phòng đọc sách của chủ nhà, mà cô biết chắc hiện giờ ở đó thầy Khôi đang ôn bài cho cô chủ nhỏ.

Không phải An Mỵ muốn đến đó để rình rập hay chọc ghẹo gì thiên hạ đâu, dù có cho vàng An Mỵ cũng không dám làm chuyện đó. Chẳng qua cô muốn nghe và ghi chép những lời giảng giải của thầy Khôi để làm tài liệu học tập cho mình.

Tìm một chỗ thích hợp ngồi xuống, An Mỵ lắng tai nghe rất kỹ để cố đưa vào bộ nhớ mà tay cô cũng không ngừng đưa nhanh viết trên trang giấy học trò, có lúc thầy Khôi chỉ viết lên bảng chớ không nói khiến An Mỵ phải nhón lên thụt xuống như bị phạt 'thụt dầu' để nhìn lên tấm bảng treo trên tường, còn thắt thỏm lo âu sợ bị bắt quả tang nên mỏi chân gần chết.

Cô phải công nhận thầy Khôi giảng vừa hay lại vừa dễ hiểu, dù ông ta không phải là một thầy giáo thực thụ. An Mỵ chợt nghĩ: nếu chọn nghề thầy giáo, ông ta sẽ thành công hơn nghề luật sư là cái chắc.

Đã hơn một tuần nay, trưa nào An Mỵ cũng ra đây ngồi 'học ké', cô cũng thu được một số bài học kha khá của các môn. Cô tiếp thu nhanh nhờ sự thông minh sẵn có nên bài toán nào khó đến đâu suy nghĩ một hồi cô cũng làm xuôi trót.

Trưa nay, An Mỵ lại đến, vừa nghe giảng vừa ghi chép rồi suy nghĩ để giải luôn các bài toán thầy Khôi mới cho. Quá tập trung nên có một bóng người vừa đến đứng sau lưng, An Mỵ cũng không hay.

An Mỵ cứ mãi cắm cúi trên quyển tập của mình, cho đến lúc nghe tiếng tằng hắng khá to cô mới giật bắn người hoảng hốt.

Ngẩng phắt lên, cô sững sờ khi thấy thầy Khôi đứng trước mặt và ánh mắt nheo nheo nhìn cô rất lạ. Rồi ông ta đưa tay ra nói tỉnh:

− Bé đang làm gì với quyển tập đó, đưa tôi coi?

An Mỵ hoảng hồn giấu vội quyển tập ra sau lưng, lúng ta lúng túng:

− Tui… tui… chỉ vẽ rồng vẽ rắn chơi thôi.

Lĩnh Khôi nhìn sâu vào đôi mắt đang mở to cách lo âu sợ sệt điều gì, khiến anh khó hiểu hỏi gằn:

− Thật không? Vẽ gì trong đó, cho tôi coi được không? Sao không đến chỗ nào ngồi chơi cho mát mẻ thoải mái, chẳng hạn như băng ghế đá dưới bóng cây mận đằng kia, hay đằng chiếc xích đu dưới gốc nhãn đó, có phải mát hơn không, lại ngồi bệt dưới đất như thế này cho dơ bẩn nắng nôi, hoặc lỡ ngồi nhằm trên tổ kiến lửa có phải là xui xẻo lắm không?

Ánh mắt nheo nheo của ông ta nhìn cô đầy nghi ngờ pha vẻ giễu cợt khiến An Mỵ cứng lưỡi bối rối. Rồi với phản xạ tự nhiên, cô cứ giật lùi dần ra phía sau như sợ ông ta sẽ lấy mất quyển tập trên tay cô, vì như vậy chẳng phải công lao cô bỏ ra cả tuần nay đem đổ sông đổ biển hay sao. Hơn thế nữa, chuyện này mà tới tai cô chủ thì chắc chắn cô sẽ không được yên thân rồi, nên bằng bất cứ giá nào An Mỵ cũng không để cho thầy Khôi coi quyển tập.

Nhưng hễ cô lùi một bước thì ông ta tiến lên một bước cách không nhượng bộ khiến An Mỵ càng lo sợ cuống cuồng. Đang lúc túng cùng nhất, An Mỵ chợt có một ý nghĩ đến nhanh trong đầu, bất thần cô quay người một trăm tám mươi độ, biến nhanh mất dạng vào khu vườn cây ăn quả.

Động tác xoay người khá nhanh và mạnh của cô bé làm búi tóc trên đầu xoã xuống tung bay lượn lờ trong gió lúc cô chạy đi, khiến Lĩnh Khôi ngỡ ngàng nhìn theo, rồi chợt kêu thầm:

− Trời! Con bé có mái tóc đẹp không thể tưởng.

Anh bỗng cúi xuống nhặt cây trâm cài cô bé làm rớt lại săm soi rồi cho vào túi áo mà trong lòng lại cuộn lên bao điều không thể thốt nên câu.

Một ngày.. hai ngày… rồi một tuần lễ trôi qua, với anh lúc này thời gian như dài hơn trước đây, Lĩnh Khôi cứ mong muốn gặp lại con bé ở bất cứ một nơi nào có thể. Anh cũng không hiểu tại sao lại mong chờ cô bé đến như vậy, chắc anh muốn trả lại cho nó chiếc trâm cài tóc này chăng… cách biện hộ này không mấy gì thuyết phục.

Vậy mà nó vẫn bặt tăm để anh cứ dài cổ ngóng trông hoài. Đôi lúc muốn dò hỏi Kiều Chinh về con bé nhưng lòng tự trọng kiêu hãnh ngăn anh lại, để đêm về anh ách một nỗi niềm.

Tiếng Kiều Chinh chợt vang lên phía sau làm gián đoạn dòng suy nghĩ riêng tư của anh:

− Anh Khôi sao tự nhiên ngưng ngang vậy?

Hơi khựng lại, Lĩnh Khôi chợt nghe quê quê. Vậy là nãy giờ anh cứ thả hồn suy nghĩ về cô bé ấy, đến nỗi đã làm một chuyện thật ngớ ngẩn là đứng im lìm trước tấm bảng đen và nhất là trước mặt Kiều Chinh như bị điểm huyệt cách lố bịch thế này sao? Đó giờ đâu khi nào anh trở nên kỳ cục dị thường trước một người nào như thế này. Sợ Kiều Chinh biết chuyện, Lĩnh Khôi quay lại tìm lời chống chế:

− Hôm nay nói vậy.

Kiều Chinh lo ra mặt.

− Anh bị gì? Hay em lấy thuốc cho anh uống nha?

Lĩnh Khôi bật cười khoả lấp:

− Thôi đi cô nương! Ở gần thằng bạn bác sĩ của tôi riết rồi cô cũng nhiễm bệnh nghề nghiệp rồi sao?

Kiều Chinh phụng phịu:

− Em lo cho anh mà, anh còn chọc ghẹo em nữa.

Những cử chỉ nũng nịu, mè nheo, lo lắng, ân cần và ánh mắt long lanh êm đềm này của Kiều Chinh đối với anh, Lĩnh Khôi đều hiểu cả. Song nào giờ chơi rất thân với Bách Niên, anh chỉ xem cô như đứa em gái nhỏ của mình, vì thế mọi chuyện anh cứ phớt lờ cho qua như không hề hay biết.

Khoát tay, anh nghiêm giọng:

− Thôi! Em ngồi lại làm cho xong mấy bài toán anh vừa cho đi rồi nghỉ. Anh thả ra vườn cho thoáng một chút chắc không sao đâu.

Kiều Chinh tuy rất bướng bỉnh kiêu kỳ nhưng với ai kìa, chớ với Lĩnh Khôi, cô chưa dám có thái độ chống đối hay làm điều gì khiến anh phật ý, bởi trong tim cô anh đã được đặt lên ngôi thần tượng từ lâu.

Lúc này đây, cô rất muốn theo anh ra vườn. Với khung cảnh thiên nhiên thanh vắng, hữu tình như vậy mà chỉ có hai người có lẽ sẽ rất trở nên thơ và biết đâu anh không 'tức cảnh sinh tình' rồi lại nói yêu cô, thì còn giấc mộng nào thần tiên hơn thế nữa.

Song sự thật vẫn là sự thật, chẳng những anh không rủ cô theo mà còn bắt cô phải làm xong mấy bài toán anh vừa cho mới được nghỉ, nhưng lệnh anh ban ra cô đâu dám không thuận.

An Mỵ đang cầm quyển tập toán trên tay với những bài tập còn dở dang lòng thầm tiếc nuối. Phải chi cô cẩn thận một chút ngó trước nhìn sau để ông thầy 'hắc ám' Khôi đừng sớm phát hiện, chắc giờ đây cô còn đang miệt mài 'nấu sử sôi kinh' chớ đâu phải ngồi đây than vắn thở dài, rầu rầu An Mỵ chép miệng cách tiếc rẻ.

− Ông trời sao thật bất công…

− Đang than vắn thở dài chuyện gì đấy, bé con?

An Mỵ kinh hoàng bật ra khỏi ghế, bởi câu hỏi cất cao đột ngột của Lĩnh Khôi, và cô cũng không quên giấu nhanh quyển tập.

Lĩnh Khôi thản nhiên bước đến băng ghế đá ngồi xuống cỗ cô bé vừa đứng dậy. Nhìn xoáy vào cô một chút, anh mới cất giọng:

− Lại giấu cái gì sau lưng đấy nhóc?

An Mỵ im lặng lắc đầu. Anh lại nhìn cô bé chăm chú rồi nghĩ: Dường như con bé đang lo lắng điều gì, mà chuyện gì mới được chứ? Sự thắc mắc khó hiểu này kéo dài trong anh gần tuần nay rồi, nên nhất định hôm nay anh phải tìm hiểu cho ra nguyên nhân nào khiến con bé sợ anh đến vậy, cũng như trong quyển tập kia nó đã viết gì.

Hơi mỉm cười anh nhìn cô bé. Chợt thấy búi tóc trên đầu cô lõng lẽo hơn, có lẽ do không có chiếc trâm cài. Bất ngờ anh đưa tay vào túi áo lôi cái trâm cài ra đưa về phía cô bé, nói:

− Trả cái này cho bé nè!

Thấy cây trâm của mình, cô bé hơi rựt rè đưa tay ra định cầm lấy nhưng bàn tay cô chưa đụng được đến chiếc trâm thì nhanh như cắt Lĩnh Khôi chụp lấy bàn tay cô kéo mạnh. Mất đà, An Mỵ té sấp vào người anh không gượng được. Đang còn chới với không hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình thì quyển tập trên tay cô cũng bị anh giật phăng. Lúc này, kể cả thân hình nhỏ bé của cô cũng nằm gọn lỏn trong vòng tay anh không còn làm gì được.

Phải một lúc sau, An Mỵ mới tỉnh hồn trỗi dậy thật nhanh, mặt xanh xao run rẩy, mắt mở to nhìn anh cách lạc thần khiếp đảm.

Nhìn cô bé lúc này, Lĩnh Khôi bỗng nghe hối hận bởi hành động hơi thô bạo thiếu tế nhị của mình vừa rồi. Lúc đó dường như anh có ý muốn đùa một chút cho vui, không ngờ sự việc dẫn đến nghiêm trọng hơn anh nghĩ. Giờ đây anh nghe trong lòng xốn xang, ray rứt.

Thật lâu sau, anh mới cất giọng trầm hẳn:

− Xin lỗi, tôi chỉ hơi tò mò muốn biết cô bé viết những gì trong quyển tập mà mỗi lần thấy tôi bé lại sợ sệt đến vậy. Ít nhiều cũng do tính hiếu kỳ chớ tôi không có ý nghĩ bậy bạ hay suồng sã gì với cô bé đâu.

Lúc bấy giờ những giọt nước mắt trong veo bắt đầu chầm chậm lăn dài xuống đôi má xanh xao, như những hạt thuỷ tinh lóng lánh được chạm trên bức tượng vô hồn lại càng khiến Lĩnh Khôi xót xa quay quắt.

Không nói không rằng, cô bé chợt quay đi với gương mặt hắt hiu buồng của màu mây u ám.

Lĩnh Khôi cũng bất động nhìn theo con bé đến lúc không thể còn nhìn thấy bóng dáng nó đâu.

Anh quay lại nhìn vào quyển tập trên tay cách đăm chiêu tư lự. Anh có quá đáng lắm không khi muốn làm sáng tỏ những thắc mắc trong lòng mình lại xúc phạm đến thân thể người khác cách hơi thô bạo và vô ý thức như thế, trong khi con bé còn chưa đến tuổi vị thình niên. Không hiểu sao lúc đó anh lại hồ đồ nóng vội đến như vậy.

Dù sao chuyện cũng xảy ra rồi, giờ ngồi đây có trách móc hay hối hận cũng bằng không, chi bằng sau này anh nhất định tìm cơ hội giải thích với con bé để lương tâm được thanh thản nhẹ nhàng.

Gác mọi chuyện sang bên, anh cúi xuống quyển tập rồi đưa tay lật trang đầu tiên, phía trên được mấy dòng nghiêng nghiêng khá đẹp như sau: 'Trầm An Mỵ - Tập ôn luyện thi đại học', nét chữ nắn nót xinh xinh ẻo lả đúng là của con gái.

Lật thêm trang kế tiếp Lĩnh Khôi thật ngỡ ngàng, vì trước mặt anh giờ đây là những bài tập toán mà anh từng giảng để ôn bài cho Kiều Chinh, tại sao nó lại nằm cả ở đây còn được giải ra một cách thật chính xác với những dòng chữ lạ hoắc này.

Còn Trầm An Mỵ là ai, hay là… không, không thể là con bé ấy! Bởi nó còn chút xíu như vậy, liệu nó có đủ trình độ để giải những bài toán hóc búa thế này, trong khi Kiều Chinh giải còn trật lên trật xuống.

Lật tiếp những trang sau, Lĩnh Khôi như không thể tin vào mắt mình đây là sự thật, một sự việc rành rành đang bày ra trước mắt. Vậy ai đã đưa cho con bé quyển tập này, và Trầm An Mỵ là ai mới được.

Bỗng tiếng Kiều Chinh gọi lớn phía sau lưng làm anh giật mình tỉnh mộng. Anh gấp nhanh quyển tập cuộn lại cầm trong tay. Quay lại, anh gượng cười lấp liếm:

− Em đã làm xong hết các bài tập rồi à?

Kiều Chinh nũng nịu:

− Anh cho bài tập gì khó quá trời luôn, làm sao em làm cho nổi bao nhiêu đó bài tập mà chỉ trong ngần ấy thời gian. Em chỉ mới làm được một bài hà, mà chả biết đúng không nữa.

Lĩnh Khôi chợt bồi hồi khi nhớ đến quyển tập trong tay với bao cảm xúc nhẹ nhàng lâng lâng chợt đến, những bài tập giải và trình bày cách thật rõ ràng chính xác đến không thể bắt bẻ vào đâu được. Chuyện đến nước này rồi làm sao anh có thể cho qua cơ chứ.

Thấy Lĩnh Khôi cứ im lìm đầu óc như để tận đâu đâu, Kiều Chinh lại mè nheo phụng phịu:

− Sao lúc này em thấy anh hay để tư tưởng đi hoang quá vậy? Anh có tâm sự phải không?

Lĩnh Khôi như sực tỉnh lắc nhẹ:

− Không có chuyện gì đâu em.

Kiều Chinh không hỏi nữa nhưng có vẻ hơi buồn. Lĩnh Khôi vờ thản nhiên như không biết gì cho mọi chuyện qua luôn.

Trưa hôm sau An Mỵ đang thơ thẩn đi dạo trong vườn bỗng nghe tiếng chuông cổng reo inh ỏi. Cô đi nhanh ra cổng ngỡ ông chủ về. Nhìn qua song cửa sắt, An Mỵ thấy chiếc xe du lịch màu trắng sữa của thầy Khôi đã đậu ở đó tự bao giờ, còn ông ta thì đứng tựa vào cánh cửa, thọc sâu hai tay trong túi quần nhìn cô tỉnh rụi, như giữa hai người chưa từng xảy ra chuyện gì vậy.

An Mỵ xụ mặt càu nhàu:

− Bộ rỗi rảnh lắm hay sao mà cứ tới gác cổng nhà này hoài vậy không biết!

Cằn nhằn là vậy, nhưng cô cũng phải kéo rộng cánh cổng, cho cái người đàn ông mà cô ghét nhất lái xe vào.

Đóng cổng xong, An Mỵ vội vã băng ngã tắt qua vườn vào nhà, cô không muốn chạm mặt ông thầy dễ ghét thêm lần nào nữa. Nhưng hình như Lĩnh Khôi đã đoán biết trước cô sẽ lánh mặt anh sao ấy, nên anh đã vòng qua đón cô lại lên trên lối đi, nói nhanh cách vừa ra lệnh vừa như hăm doạ:

− Khoảng nữa tiếng đồng hồ nữa, cô bé ra chỗ hôm qua gặp tôi. Nếu không ra, tôi sẽ vào tận nhà tìm đó.

An Mỵ vừa tức vừa lo sợ đến xanh mặt. Cô không đoán ra được chuyện gì đã xảy ra mà ông ta đòi gặp cô với gương mặt lầm lì dữ tợn như vậy, lại vừa có vẻ rất hình sự nữa chứ. An Mỵ nín thinh không dám nói gì, chỉ quay lưng rồi biến nhanh vào nhà như bị ma đuổi. Đóng rầm cánh cửa, cô lật đật leo lên giường vòng tay bó gối mà vẫn còn nghe run. Cô đang cố moi óc nghĩ ra cách nào để đối phó với Lĩnh Khôi, nhưng vô phương. Chẳng lẽ vì chuyện học 'ké' của cô? Nếu đúng là chuyện đó thì có gì lớn lao đến nỗi ông ta cứ theo điều tra vặn vẹo cô kiểu đó.

Gặp lúc trưa này dì Hai không có ở nhà. Hồi sáng này, ông chủ đã nhờ dì Hai đi công chuyện gì đó vẫn chưa về nên An Mỵ nghe lo sợ cuống cuồng, đầu óc mụ mị không suy nghĩ ra được chuyện gì. Cô không hiểu mình đã gây ra chuyện tày trời gì mà nét mặt ông ta lúc nãy trông ngầu đến khiếp vía.

Thế rồi cái thời khắc ông ta hẹn với cô cũng đến, An Mỵ đứng lên đôi chân run rẩy cơ hồ không muốn vững, cố trấn tĩnh, chậm chạp bước ra vườn như muốn kéo giãn thời gian cho đỡ sợ. Đến nơi, cô trông thấy thầy Khôi đã đợi sẵn ở đó rồi. Thấy cô, anh không nói gì, chỉ nhìn cô rồi ra hiệu ý bảo cô ngồi xuống chiếc ghế anh đang ngồi.

An Mỵ ngồi xuống căng thẳng, mặt cúi gằm chờ đợi.

Thật lâu sau, Lĩnh Khôi hút xong điếu thuốc. Anh búng mạnh chiếc đầu lọc thành hình vong cung trước khi rơi xuống đám cỏ trước mặt, rồi quay lại nhìn cô cất giọng trầm trầm nghiêm nghị:

− Hôm nay cô bé phải nói rõ cho tôi biết cái tên Trầm An Mỵ là ai?

An Mỵ ngước nhanh tròn mắt nhìn Lĩnh Khôi cách ngỡ ngàng. Chẳng lẽ chỉ vì cần biết một cái tên thôi mà việc gì đến nỗi trông mặt ông ta lúc này còn hình sự hơn mấy chú công an đang điều tra một vụ án giết người cướp cửa không bằng.

Thấy cô bé cứ nín thinh nhìn mình ngơ ngác, anh bực dọc giọng hơi gay gắt:

− Sao không trả lời tôi?

Bị giật mình, An Mỵ nói nhỏ xíu:

− Ông muốn biết để làm gì vậy?

Lĩnh Khôi chợt gắt gỏng:

− Thì cô cứ trả lời đi!

Im lặng một chút, An Mỵ xác nhận:

− Là tui đó.

Thật nhanh, Lĩnh Khôi quay phắt lại nhìn cô cách chăm chú cách như thể đang chế giễu:

− Tôi đang nói chuyện nghiêm chỉnh đấy.

An Mỵ nghe tự ái, vùng vằng:

− Chớ tui nói giỡn với ông bao giờ?

Lĩnh Khôi lại hỏi cách châm chọc:

− Vậy nhóc định nói với tôi là quyển tập này của mình đó hả?

Lúc này tuy cảm giác bị xúc phạm ghê gớm, song An Mỵ chỉ nguẩy đầu lặng thinh.

Bỗng Lĩnh Khôi bật cười vang, cách cười khiến người nghe tự ái kinh khủng vì nghĩ mình bị coi thường. Không còn chịu nổi, An Mỵ bật lên định bỏ vào nhà. Nhưng Lĩnh Khôi nhanh tay ấn cô ngồi trở lại, cố nén không cười nhưng miệng cẫn còn tủm tỉm. An Mỵ xụ mặt mím môi quay nhìn chỗ khác.

Thật lâu sau, anh mới dứt hẳn được nụ cười nhưng giọng vẫn bông lơn:

− Thôi, nhóc đừng đùa nữa, tôi sắp vỡ bụng ra rồi đây!

Như bị xúc phạm nặng nề, An Mỵ phản ứng mạnh mẽ hơn:

− Nếu không tin thì đừng hỏi tui.

Thấy con bé có vẻ giận thật, Lĩnh Khôi không đùa nữa:

− Nếu muốn người khác tin những gì mình nói là sự thật thì bé chứng minh đi.

An Mỵ không còn kiên nhẫn nữa, bực tức cô nói ngang:

− Việc gì tôi phải chứng minh với ông, trong khi bản thân tôi cũng đâu cần ông tin.

Dứt câu, cô bật đứng lên buông gọn:

− Tui vào nhà đây!

− Khoan đã! Nhóc chưa trả lời tôi thì không thể đi được.

− Nhưng thầy đã không tin, nên tôi cũng hết cách.

Lĩnh Khôi nghĩ nhanh trong đầu rồi nói:

− Vậy nếu nhóc khẳng định mình là Trầm An Mỵ thì hãy giải bài toán này tôi mới tin.

Lĩnh Khôi vừa dứt lời cũng là lúc tiếng dì Hai gọi khá to từ trong nhà vọng ra.

− An Mỵ ơi! Con có ngoài đó không?

Như để chứng minh lời nói của mình là thật, An Mỵ dạ lớn rồi biến nhanh vào vườn cây.

Lúc này còn lại một mình, mặt Lĩnh Khôi ngớ ra trông thật buồn cười. Anh há hốc nhìn theo con bé, kinh ngạc, bối rối. Cô bé đi khuất đã lâu mà Lĩnh Khôi vẫn im lìm bất động. Phải một phút sau, anh mới từ từ lấy lại trạng thái cân bằng.

Lúc bấy giờ, không biết bao nhiêu câu hỏi cứ chen nhau xoay tít trong đầu anh muốn nổ tung. Nào giờ dưới con mắt bản lãnh nghề nghiệp một luật sư, anh chưa bao giờ nhìn người sai lệch cách hoàn toàn như vậy.

− Vậy cô bé là ai? Từ đâu đến đây và bao nhiêu tuổi rồi mà cái đầu với thân hình nhỏ xíu kia lại thông minh đến thế, cũng như còn chưa đựng những bí ẩn nào anh chưa biết được.

Giờ suy nghĩ lại, Lĩnh Khôi mới sực nhớ lần đầu bắt gặp cái nhìn của cô bé, anh ngờ ngợ linh cảm rằng, ở một đứa con nít chưa đến tuổi trưởng thành nó không thể có được đôi mắt vừa có hồn lại vừa đẹp cực kỳ đến vậy, nó lóng lánh buồn buồn như mặt hồ sâu lắng khiến người nhìn có cảm giác chơi vơi dường như đang chứa đựng nhiều trắc ẩn mà ta chưa thể khám phá.

Một sự lôi cuốn mãnh liệt nhưng âm thầm lặng lẽ khiến Lĩnh Khôi cứ muốn đến đây, muốn khám phá tìm tòi cái điều mà anh hằng khắc khoải.

Hay nói đúng hơn, anh muốn nhìn đôi mắt đẹp của con bé dù lúc anh rất vô tư chỉ coi nó như một đứa con nít mà thôi.

Trong khi bản thân anh đâu phải hạng vô công rỗi nghề, công việc cũng đang ngập đầu ngập cổ chứ. Cũng đâu phải dạng sinh viên nghèo chạy vạy dạy thêm để kiếm tiền lo đèn sách, bút nghiên…

Vậy động lực nào thúc đẩy khiến anh phải bỏ bê công việc, còn thường xuyên chạy đến đây dạy kèm cho cô tiểu thư đỏng đảnh Kiều Chinh kia, mà trong thâm tâm anh đã không thích từ đầu và nếu nói không nhằm mục đích nào mà đến tiền công cũng không thèm lấy một xu thì quả là vô lý… Vì một lời hứa chăng? Hay vì tình cảm bạn bè giữa anh và Bách Niên? Cũng không nốt. Bởi giờ nói ra có hơi bị 'chảnh' nhưng sự thật là trước đó Bách Niên có đến tìm anh mấy lần nhờ dạy kèm giùm cô em gái nhưng anh nhất định từ chối hết.

Nói tóm lại, có lẽ anh bị mê hoặc bởi đôi mắt thiếu nữ huyền hoặc quyến rũ trong cái thân hình trẻ nít của con bé mà chính bản thân anh cũng không phát giác ra, cho mãi đến bây giờ…

Lĩnh Khôi lững thững trở về phòng đọc sách, vừa di anh vừa thấy tức cười. Không biết chuyện này anh nói ra bạn bè có đứa nào chịu tin không nhỉ? Bởi chúng nó thường kháo với nhau rằng 'Thằng Lĩnh Khôi có trái tim được đẽo bằng gỗ, nên nó không biết yêu, cũng không biết rung động là gì, mặc dù có rất nhiều người đẹp vây quanh'. Nếu giờ đây chúng nó biết được trái tim bằng gỗ của anh cũng có lúc bị