Bi Thảo Luận BÃO TÁP CUNG ĐÌNH-Hoàng Quốc Hải Trong Tiểu Thuyết & Truyện Dài forums, thuộc mục Phòng Truyện ; CHƯƠNG 9 Vào một đem cuối tháng mười một năm Ất dậu (1225), trời tối mịt mù, gió rét căm ...
|
|||||||
| Register | FAQ | Members List | Calendar | Radio and TV | Mark Forums Read |
|
|
#11 |
|
Khách Ghé Thăm
Posts: n/a
|
Ðề: BÃO TÁP CUNG ĐÌNH-Hoàng Quốc Hải
CHƯƠNG 9 Vào một đem cuối tháng mười một năm Ất dậu (1225), trời tối mịt mù, gió rét căm căm, Trần Thủ Độ đem hết gia thuộc vào trong cung cấm rồi sai đóng chặt cửa thành lại. Quân tứ sương(1) chẹn đứng bốn cửa đông - tây - nam - bắc hoàng thành. Quân thánh dực, quân hổ bôn ém dầy đặc trong tử cấm thành. Trên các trục đường từ các lộ Hồng, Khoái, Bắc Giang, Quốc Oai, Trường Yên đổ về kinh đều tăng số quân kỵ, quân bộ đóng giữ, canh phòng, tuần tra cẩn mật, tưởng đến một cánh chim cũng khó lọt qua được. Lệnh truyền: “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”(2). Vào một đêm như thế, quan thái phó Phùng Tá Chu được triệu vào cung. Quan thất kinh vì nhận thấy giọng nói thì thầm và bước đi êm nhẹ như những bóng ma của bọn lính trong đêm tối, ông linh cảm như có một tai họa gì khủng khiếp sắp giáng xuống đất Thăng Long. Vừa hoang mang, vừa tò mò, quan thái phó đoán già đoán non các việc có thể xảy ra. Nhưng ông không hình dung được một việc gì rõ ràng, mà nó chỉ mông lung mờ ảo như đám sương mù tháng chạp. Gần đây, việc quan thừa chỉ đang trấn trị châu Nghệ An được triều hồi về kinh, rồi lại hấp tấp đi nhiệm sở tại Trường Yên, khiến một số sủng thần cũng phải ngơ ngác, còn các quan khác hết đỗi hoang mang. Vào tới nội điện, ông được diện kiến trước hết là quan tri thành nội ngoại chư quân sự Trần Thủ Độ. Bạch lạp sáng choang, soi rõ khuôn mặt quan ngài đằng đằng sát khí. Nhưng rất lạ, ông niềm nở mời quan thái phó vào cửa, cứ như là sắp có yến tiệc gì đây. Tiếp đó, lại thấy lấp ló có quan thái úy phụ quốc Trần Thừa, và cả bà thái hậu Trần Thị Dung cũng có mặt. Đọc những nét hiện trên khuôn mặt của ba người này, ông đủ biết triều chính đang có chuyện gì lớn lắm, nghiêm trọng lắm. Đến nỗi ông không dám cắt lời hỏi, mà chỉ rút nhẹ tờ hỏa lệnh gài trong khuôn mũ, kính cẩn đưa trả cho Trần Thừa, và khép nép nhìn bà thái hậu như muốn nói: “Thần xin phụng mạng”. Phùng Tá Chu chưa kịp ngồi thì Trần Thủ Độ từ cửa tò vò đi vào, tay vẫn đặt hờ trên đốc kiếm nói: “Việc đã gấp lắm rồi. Anh cả và chị nói luôn để cho ông Chu thảo chiếu ngay!”. Nói xong, ông đi liền. Chỉ nghe tiếng vọng chân ông ở mãi phía ngoài thềm. Qua giờ Tý thì quan thái phó đã thảo xong chiếu, đọc thử cho bà thái hậu và anh em Trần Thủ Độ nghe. Trần Thừa gật gù hỏi: “Chú Đôï thấy thế nào?”. Trần Thủ Độ bảo: “Được” rồi quay ra. Đêm ấy Phùng Tá Chu phải ngủ lại trong cung. Tin tức các nơi báo về đều không có động tĩnh gì. Sáng hôm sau đến giờ thiết triều, các quan văn võ tới chầu, nhưng cửa điện vẫn đóng im ỉm không được vào, Trần Thủ Độ uy nghi trong bộ võ phục đứng trên lầu Vọng Nguyệt nói xuống: “Nhà vua đã có chồng rồi”. Các quan đều nói: “Được! Xin cho vào lạy mừng”. Nữ chúa Chiêu Hoàng trang điểm lộng lẫy ngồi lọt thỏm trong ngai vàng. Xế phía bên tả ngai vàng, Trần Cảnh đứng cạnh quan thái úy phụ quốc Trần Thừa. Bà thái hậu ngồi trước ngai. Các quan từ nhất phẩm trở xuống đều quì lạy. Nữ chúa ban tờ chiếu cho quan hàn lâm thị độc. Ông vái nhà vua ba vái rồi quì đọc. Giọng quan thị độc sang sảng. Ông đọc thong thả từng lời, từng lời như thấu tận tim óc mọi người. Đọc xong, triều nội vẫn im phăng phắc. Các quan, ai nấy đều cảm thấy đây là việc làm không bình thường của hoàng gia, nhưng không có gì trái đạo. Bà thái hậu đứng lên nói vài lời: - Xưa nay, việc hôn nhân là đạo thường trong thiên hạ. Nhà vua tuy tuổi còn nhỏ, nhưng đã sớm phải gánh vác việc lớn quốc gia. Thượng hoàng bệnh trọng, đã xuất gia. Ta lại là đàn bà không biết thế nào mà lo liệu. Nay bệ hạ ưng thuận quan chánh thủ Trần Cảnh để có bầu có bạn sớm hôm học hành, mai đây còn lo việc lớn cho trăm họ. Mong các quan gắng sức khuông phò…” Thái hậu vừa dứt lời, các quan đồng thanh chúc cuộc trăm năm của vua nhỏ: “Thiên tuế! Thiên tuế!” Vậy là cuộc hôn nhân được sắp đặt do cơ mưu và cũng do sức ép của Trần Thủ Độ đã êm xuôi. Những ngày sau đó, Trần Thủ Độ cho người đi tung tin khắp các châu, quận, trấn, lộ rằng Chiêu Hoàng nữ chúa đã lấy chồng, xem các đầu mục, nhất là hai viên tướng phản loạn đang trấn giữ hai vùng phía đông, phía bắc kinh thành có phản bác gì không. Tịnh không có gì xảy ra. Cũng không có chuyện vì nữ chúa lấy chồng mà các tướng phản loạn dấy binh. Phải chăng việc lấy vợ lấy chồng là đạo thường trong thiên hạ như lời bà thái hậu. Nếu vậy, quả là ông đã đi một nước cờ liều, nhưng lại thắng to. Điều ông sợ nhất vẫn là các quan đại thần ra mặt chống đối, hoặc ngấm ngầm kết liên với các thế lực của Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn. Nếu hai người ấy hòa hợp với nhau, lại thêm có chiếu cần vương của Huệ tôn, thì dù ông có đởm lược như Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành cũng phải tự trói tay mà chịu chết. May thay, họ lại án binh bất động. Lại nói về thầy trò Hoàng tiên sinh bữa nọ đang hái thuốc trong rừng sâu, chợt có người khách thương đem muối từ đồng bằng lên đổi lấy trầm hương, tùng hương, họ nói lại sự việc mới xảy ra ở kinh kỳ. Nghe xong, tiên sinh mỉm cười sung sướng, thầm khen: “Thủ Độ quả là một tay anh hùng, một tay gian hùng. Giỏi! Y cực giỏi. Đế nghiệp chắc chắn về tay họ Trần”. Mười ngày sau vụ nhân duyên của Chiêu Hoàng - Trần Cảnh. Hoàng tiên sinh về tới kinh. Vừa trông thấy Trần Thủ Độ, Hoàng tiên sinh đã kính cẩn vái chào. Hành vi đó khiến Thủ Độ phát hoảng lên. Vì từ khi mời được Hoàng tiên sinh hạ sơn, Trần Thủ Độ vẫn thờ ông như một bậc sư phụ. Còn ông, tuy giữ lễ với người quyền lực nhất triều, nhưng vẫn bảo tồn được cái phần kiêu hãnh của một bậc quốc sĩ, theo đúng đạo trung dung. Không kính quá, cũng không thường quá. Song bữa nay, có gì như trái với lệ thường, khiến Trần Thủ Độ phải cúi rạp mình xuống vái ba vái để đáp lễ tiên sinh. Thủ Độ tuy đã là một tay có tài tế thế, song vẫn không hiểu được thâm ý của họ Hoàng. Điều đó có nghĩa rằng, Hoàng tiên sinh muốn khen người học trò của ông thuộc loại: “hậu sinh khả uý”. Tiên sinh thầm nghĩ: “Trong lúc thế cuộc rối ren, ta gợi cho ông ấy phải sắp lại cuộc cờ. Phải loại bỏ vai trò của đức vua điên. Chỉ nên lợi dụng cái danh của ông ta để điều hành việc triều chính, và sai khiến thiên hạ. Chính tiên sinh đã gợi cho Trần Thủ Độ một vài việc cần làm. Ví như việc sách lập Chiêu Thánh làm hoàng thái tử, rồi đưa “Hoàng thái tử” lên kế nghiệp. Tiếp đó ông ta lại nghĩ ra chuyện đưa luôn thằng bé tám tuổi, cháu ông ta vào chầu hầu vua nhỏ, với chức chánh thủ. Vậy thời thằng bé ấy, kết duyên với con bé kia, là chuyện đương nhiên. Vì cha chú chúng đã có chủ ý”. Sực nhớ đang trò chuyện với Trần Thủ Độ, Hoàng tiên sinh nói như người vừa mới chợt nghĩ ra: - Thế tất còn một việc trọng yếu sau cuộc hôn nhân này, tới lúc nào mới được thực thi? Thưa quan ông. Trần Thủ Độ giật nảy mình như người dẫm phải gai. Ông tự hỏi: “Ông già này như biết hết ruột gan ta. Thật không có việc gì có thể qua được mắt tiên sinh”. Thay vì trả lời, Trần Thủ Độ mỉm cười và hỏi lại: - Xin tiên sinh dạy cho, nên làm vào lúc nào là tốt nhất? Hoàng tiên sinh lại nghĩ: “Con người này tuy ít học, nhưng sáng ý lạ thường. Chỉ gợi cho ông ta một bước, là ông ta bước tiếp cả một chặng dài. Thuần những bước đi chắc nịch. Ông ta thuộc loại người đa mưu túc trí, nếu được dẫn dắt vào con đường lương thiện, hẳn nhiên sẽ trở thành con người đức độ, làm rường cột cho quốc gia. Ông ta thuộc loại người có thể chia sẻ quyền lợi chứ không chia nhường quyền lực. Gặp lúc hiểm nghèo có thể nhún chứ không lui. Trong lúc thế nước ngàn cân treo sợi tóc, hoạ nồi da xáo thịt đang hăm doạ muôn dân; phải có những người đại hùng, đại trí như thế này mới mong gỡ được thế cuộc. Ở ông ta cái thiếu không phải là trí hoặc dũng, mà là nhân. Nếu ông ta tu chính để thành người nhân nghĩa nữa, chắc chắn ông ta sẽ trở nên một bậc thánh”. Giây lâu, tiên sinh mới lại hỏi: - Việc này quan ông làm càng sớm càng tốt. Bởi có chính danh vị mới định được danh phận. Hoàng tiên sinh thấy trong lòng êm nhẹ, bởi thế nước có cơ an thịnh. Tiên sinh cũng tin nơi Trần Thủ Độ, có thể lèo lái được con thuyền quốc gia, tới bến bờ đắc thắng. Vả lại, trong triều cũng còn nhiều bậc lỗi lạc, có thể giúp rập thêm vào. Tiên sinh đang có ý muốn trở lại chốn sơn lâm, hoặc chu du thiên hạ làm thuốc, cứu nhân độ thế. Cũng muốn nhân dịp này bày tỏ với Trần Thủ Độ đôi điều, ngõ hầu mới có thể khai triển trong việc an dân hưng quốc. Trần Thủ Độ khiêm nhã chắp hai tay nói: - Xin lĩnh ý tiên sinh. Rồi ông tiếp : - Bẩm tiên sinh, từ ngày được tiên sinh chỉ giáo, tôi cũng làm được đôi điều khả dĩ thành tựu. Song le, việc học hành chữ nghĩa kém cỏi, thành thử làm việc trước chưa lường được việc sau. Nhiều điều còn mù mờ rối rắm, như người lạc vào rừng giữa đêm tối. Chỉ mong có dịp gần, sớm chiều được tiên sinh chỉ bảo, họa may mới có thể tránh được sự bại vong. Có nhẽ Trần Thủ Độ đã gợi trúng điều Hoàng tiên sinh đang suy ngẫm, ông hồ hởi đáp: - Quan ông đối với ta ưu hậu quá, khiêm nhường quá. Chẳng hay cuộc tiếp kiến dạo trước, những lời nói thẳng của ta có làm quan ông phật ý? Ta cứ áy náy mãi, là bởi: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”(3). - Bẩm tiên sinh, nhờ có tiên sinh sáng suốt vạch ra những điều bất thiện ẩn náu trong con người tôi, tôi lấy đó làm bài học răn mình, lúc nào cũng sợ hãi như người cầm roi mục giong cương ngựa thiên lý. Hoàng tiên sinh cười ha hả, vuốt chòm râu bạc, vẻ đắc ý, ông nói: - Ta với quan ông, tình là bầu bạn, nghĩa là thầy trò. Quan ông đối với ta, tình là chỗ quan dân, nghĩa là sự trên dưới. Trần Thủ Độ xua tay: - Không dám! Không dám! Tiên sinh dạy quá lời. Hoàng tiên sinh lại nói: - Tựu trung, cả nghĩa lẫn tình giữa quan ông với ta có thể qui về mấy chữ sau đây: TƯƠNG THỨC MÃN THIÊN HẠ TRI ÂM NĂNG KỶ NHÂN(4). Ta nói để quan ông rõ. Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ. - Xin đa tạ tiên sinh! Hoàng tiên sinh với giọng trầm ấm, rủ rỉ nói với Trần Thủ Độ những điều tâm huyết mà bấy lâu ông hằng ấp ủ. - Sớm muộn gì thì thiên hạ cũng về tay họ Trần. Sự nổi loạn của các sắc mục miền xuôi, của các người Man miền ngược, quan ông ra tay bình định một sớm một chiều là qui phục hết. Điều đáng lo ngại của quan ông là hai thế lực to lớn của Nguyễn Nộn ở phía Bắc, Đoàn Thượng ở phía Đông. Đoàn Thượng như bữa trước ta đã nói. Y sẽ tự tan. Còn Nguyễn Nộn hết thời cơ rồi. Vả lại ông ta không phải là địch thủ của quan ông. Cứ dùng chính lệnh của triều đình mà sai khiến. Hai người này không thể liên kết với nhau để thành một đại lực lượng, chống lại quan ông. Ví rằng cả hai người đó đều là những kẻ vị kỷ chứ không vị nhân. Nghiệp lớn không thể rơi vào tay họ được. Hoàng tiên sinh ngừng lời, như vẫn còn muốn kiểm xét xem những điều gì thật cần thiết, thật có ích cho việc hưng quốc an dân, ông sẽ hết lòng bầy tỏ với Trần Thủ Độ. Giây lâu tiên sinh lại nói: - Mai đây khi đã kiêm tính được thiên hạ, tiên sinh nói tiếp - Có mấy việc lớn quan ông phải lưu ý làm ngay. Việc đầu tiên là phải lo chấn chỉnh lại bộ máy hành chính quốc gia. Trước hết, phải dùng được người tốt, người tài giỏi. Dùng được người tốt, người tài giỏi thì trị an, dùng phải kẻ xấu thì nguy loạn. Một nước trị hay loạn là do ở vua và quan giỏi hay dở. Vì thế, việc dùng người là khâu then chốt nhất của một triều đại. Việc hình luật mà quan ông đang sửa sang, phải gấp gáp. Một nước văn hiến không thể không có luật pháp. Luật pháp có rồi lại phải nghiêm. Ngay đến đức vua cũng không được đứng trên luật pháp. Quan ông cũng nên xét lại các chính lệnh của nhà Lý để mà di phong dịch tục. Điều gì hay phải giữ. Đại Việt từ khi lập quốc, chỉ đến nhà Lý mới được xem là một triều đại có văn hiến. Về chiến công thì oanh liệt, về chính trị thì nhân từ. Các chính sách như ngụ binh ư nông và tổ chức quân đội, là một chính sách lỗi lạc. Giữ binh lính ở việc làm ruộng việc, là phục việc nguy hiểm vào nơi thuận tiện. Nhất là việc tổ chức quân đội, đến nhà Tống còn phải học(5). Việc an dân và việc binh bị, quan ông đã có nhiều chủ kiến hay, ta không bàn tới nữa. Ngừng một lát tiên sinh lại tiếp: Mấy chục năm gần đây, nhiều người bài xích đạo Phật, bắt sư hoàn tục. Không nên quên rằng nhà Lý gốc ở Phật, mà dựng được một quốc gia hùng cường, thuần ái. Không những thế, nhà Lý còn kiêm dùng được cả ba đạo: Nho - Lão - Thích. Ngay nhân tài cũng từ cửa đó mà ra. Các khoa thi tam giáo đã lựa được biết bao tài năng cho đất nước. Ngày nay có nhiều người cho rằng, Phật giáo nặng về mê tín dị đoan. Đâu phải thế. Dị đoan là bọn đồng cốt. Còn Phật, chủ về cả thế tục lẫn tâm linh. Căn cốt của Phật là giác ngộ và giải thoát. Nên nhớ rằng nếu khờ dại mà tước đi của con người phần tâm linh, thì họ sẽ bơ vơ không nơi an trụ thân tâm, sẽ cô đơn hoang dã như loài thú. Nói cho đúng thì Phật liên kết chúng sinh lại, cũng như nỗi đau trần thế liên kết mọi con người. Hoặc giả không có Phật Thích-ca mâu-ni, thì con người cũng tạo ra Phật để mà tin thờ, để mà gởi gắm cho vơi vợi nỗi đơn côi. Phần tâm linh đã vậy, còn phần dân trí thì sao? Phải lo mở mang việc học để khai phóng dân trí. Dân trí mở mang rồi, thì lo đến việc trì quốc, chứ đừng khư khư mãi chính sách trị quốc. Giữ nước là công việc của trăm họ, của muôn dân, còn trị nước chỉ là công việc của một dúm người trong bộ máy quan liêu. Chính sách gì của triều đình, quan ông cũng phải chú trọng trước hết đến việc dùng kẻ sĩ, trọng người hiền. Với loại người này chỉ có dùng đức để thuyết phục, dùng lễ để sai khiến, chứ dùng quyền uy, phú quí họ coi khinh không bằng cọng cỏ. Chung qui, kẻ sĩ thì dễ thờ mà khó làm cho họ đẹp lòng. Còn bọn tham bẩn thì khó thờ mà dễ làm cho chúng đẹp lòng. Một nước muốn cất mình lên, chỉ có thể trông cậy ở lớp người hiền tài. Hoàng tiên sinh nói như giãi bày hết cả gan ruột mình, như muốn truyền thụ tất cả những gì ông thu nhận được qua chữ nghĩa thánh hiền, cũng như những gì ông đã suy nghiệm gần mãn cuộc đời, hoặc nếm trải qua cuộc sống đắng cay của đám cùng đinh dân dã, vẫn chưa có cơ may thi thố. Trần Thủ Độ rất đỗi cảm kích tấm lòng ưu nghĩa của tiên sinh. Mỗi lời nói của tiên sinh đều giản dị dễ hiểu, dễ nghe nhưng lại ẩn chứa những đạo lý sâu sắc mà tiên sinh iu ấp suốt đời. Phương chi những điều ấy lại được thi thố đầy đủ thì dân nào chẳng giàu, nước nào chẳng mạnh. Thấy Hoàng tiên sinh ngưng lời, và sắc diện tiên sinh hơi mỏi mệt, Trần Thủ Độ lựa hỏi: - Bẩm tiên sinh, tiên sinh đi khắp trong dân chúng cũng như trong đám quan quân, chẳng hay có dư luận gì về kẻ ngu dại này đang nắm trọng trách quốc gia, xin tiên sinh cho biết để hoạ may còn đổi lỗi? - Hễ đã có làm bất cứ một điều gì là đều có dư luận. Huống chi quan ông là bậc tể thần, mỗi việc làm của quan ông là đụng đến cả rường mối quốc gia. Sao lại không có dư luận? Mọi người đều ưa quan ông cả ư? Mọi người đều ghét quan ông cả ư? Sự ưa ghét ấy đều không thật. Vì ở đời có người thiện, kẻ ác. Nếu người thiện ưa mà kẻ ác không ghét, là không thật. Hoặc kẻ ác ghét mà người thiện không ưa cũng không thật. Cho nên làm việc gì mà người thiện ưa, kẻ ác ghét, ấy là thật. Biện biệt như thế mới thấy rõ người hay kẻ dở ở đời. Trần Thủ Độ vẫn còn một điều áy náy, với vẻ khoái hoạt, ông hỏi: - Thưa tiên sinh, vừa rồi tiên sinh có dạy phải sửa sang hình luật. Chẳng hay làm thế nào để hình luật ban ra cho hợp lý, từ người trí đến kẻ ngu đều chấp nhân được. Suy nghĩ giây lâu, Hoàng tiên sinh đáp: - Hãy xem xã hội như một ngôi nhà chung, mỗi người đều phải có trách phận giữ gìn. Qui ước chung để giữ gìn “ngôi nhà xã hội” đó, là luật pháp. Pháp luật hay luật lệ gì cũng đều do con người làm ra. Cho nên nó phải phù hợp trước hết với cuộc sống của con người và không trái với lương tâm. Ấy là hợp đạo lý. Việc tối kỵ là chỉ san định những điều có lợi riêng cho các người cầm quyền, mà thiệt hại cho dân chúng, thì đấy sẽ là đầu mối của sự loạn. Thoáng gợn một nét buồn, Hoàng tiên sinh cáo từ. Trần Thủ Độ xúc động tới mức chưa kịp nói lời cảm tạ, Hoàng tiên sinh đã khuất sau dãy xuyên đường. === 1.Quân tứ sương: quân canh gác bốn cửa thành. 2. Đây là lệnh giới nghiêm, cấm người ở trong thành không được đi ra, ở ngoài thành không được vào, ai ở yên vị trí đó. 3. Nghĩa là: Một lời đã nói ra, bốn ngựa đuổi khó kịp. Nghĩa bóng: Phát ngôn phải thận trọng. Lời nói ra khó thu về. 4. Có nghĩa: Bạn bè biết nhau đầy rẫy trong thiên hạ. Nhưng thực ra tri âm được mấy người 5. Tống sử nói về “ An Nam hành binh quân pháp” (“Phép dùng bình của người An Nam”) có đoạn viết: “Thái Diên Khánh là tri châu ở đất Hoạt thường học được phép tổ chức quân đội của An Nam, xin bắt chước qui chế chia ra từng bộ phận. Dâng lên vua Thần tông (1068 - 1084) được vua khen”. Trong “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn có thuật lại về “Thái Diên Khánh truyện” rằng: “Diên Khánh thường theo phép hành binh của An Nam. Bộ đội chia làm các hạng: Chính binh và Phiên binh... Diên Khánh ghi chép tất cả rồi dang thư lên vua Thần tông bên Tầu, được vua khen”. Theo tác giả Pierre Pasquier trong “Annam d’autrefois” đã viết: “L’Annam a connu le soldat laboureur avant la Rome antique” - “Nước Nam biết dùng binh làm ruộng trước cả nước La Mã cổ xưa”. |
|
|
|
#12 |
|
Khách Ghé Thăm
Posts: n/a
|
Ðề: BÃO TÁP CUNG ĐÌNH-Hoàng Quốc Hải
CHƯƠNG 10 Sau những lời tâm phúc cao diệu mà thiết thực của Hoàng tiên sinh, đêm ấy Trần Thủ Độ trằn trọc mãi không ngủ được. Ông có cảm giác như tiên sinh đã đem hết ruột gan ra để truyền dạy cho. Và ông cũng mơ hồ cảm nhận như là tiên sinh sắp rời bỏ ông. Để khoả lấp sự trống trải cô đơn mà ông cứ triền miên vẽ ra trong đầu óc; Trần Thủ Độ vùng dậy đốt hương đứng giữa trời khấn vái: “Tôi vốn xuất thân con nhà chài lưới, làm ruộng. Chẳng may gặp lúc nước nhà loạn lạc, đã giốc hết sản nghiệp ra tiêu dùng vào việc cứu khốn phò nguy. Những mong dân cư an lạc, đất nước thanh bình. Nếu vận số nhà Lý đã hết. Lòng Trời muốn trao nghiệp lớn thiên hạ vào tay họ Trần, xin hoàng thiên hậu thổ linh phù cho sự nghiệp mau thành; để bốn phương dứt nạn đao binh. Tôi không có tham vọng chiếm đoạt ngôi cao, chỉ xin khuông phò vua nhỏ, cốt hưng vận nước, để phúc cho đời. Xin Trời phù hộ…” Sớm ra, ông sai lão bộc gây đốt lò trầm, đun nước pha trà để đích thân ông sang mời Hoàng tiên sinh. Trần Thủ Độ chụp lên đầu chiếc mũ tiến hiền, khoác áo thụng tía, chân dận giầy thêu chim loan phượng, đến chực sẵn trước nhà bái đường. Ông cứ tha thẩn đi lại nơi hàng hiên, xem tiên sinh đã thức dậy chưa, ông muốn mời tiên sinh trước khi tiểu đồng kịp pha nước. Đã nom rõ mặt người, Trần Thủ Độ kiễng nhìn qua hàng con tiện phía trên cửa bức bàn, không thấy động tĩnh gì. Lại để ý không thấy đôi câu đối vẫn treo ở hàng cột gian giữa. Lòng hồi hộp, quan ông đẩy nhẹ khuôn cửa bức bàn. Cả hai cánh hé mở. Thì ra cửa chỉ khép hờ. Trần Thủ Độ lên tiếng gọi: - Bẩm tiên sinh! Ông nhắc lại, giọng nhấn to hơn, nhưng âm sắc đã có phần hơi lạc: - Bẩm tiên sinh! Vẫn không có dấu hiệu gì, Trần Thủ Độ bước vào nhà trong. Cảnh tượng như một mũi dao đâm thấu tim ông: màn trướng, chăn gối xếp đặt gọn gàng. Cây sáo trúc, chiếc đàn tranh vẫn treo trên vách. Sách trên giá đâu vào đấy. Tất cả các đồ văn phòng tứ bảo lau chùi sạch sẽ, bầy đặt thứ tự, y hệt ngày đầu Hoàng tiên sinh mới đến. Giữa án đặt một phong thư. Trần Thủ Độ run run mở ra đọc. Đọc xong ông thở dài ảo não: - Thế là hết! Tiên sinh không trở lại nữa. Cũng không cho ta kiếm tìm. Mong muốn đôïc nhất của tiên sinh là:…Thấy đám lê dân tận nơi thôn cùng xóm vắng được sống đủ đầy, hiếu thiện…Ôi, cái ơn tri ngộ này ta quyết phải đền đáp, để thoả lòng mong ước của tiên sinh. Trần Thủ Độ cho gọi đám lính canh. Họ nói thầy trò tiên sinh đi từ lúc nửa đêm. Thủ Độ im lặng không nói gì nữa. Vì rằng ông đã có lệnh cho đám lính, cứ để tiên sinh tự ý đi về bất kỳ lúc nào, không được hỏi han quấy quả. Vậy là tiên sinh đã đi mà không để lại dấu vết. Trần Thủ Độ đi quanh quẩn trong nhà và nhớ lại tất cả những kỷ niệm về tiên sinh. Chợt thấy đôi liễn vẫn còn treo ở chổ cũ. Hai vế, mười chữ(1) tiên sinh viết chân phương như một lời răn dạy mà người để lại. Chắc có hàm ý khuyên bảo. Ngay việc viết câu đối liễn, thường người ta viết lối thảo thư(2) thật là bay bướm. Có người viết theo lối cuồng thảo, kẻ ít học không sao đoáùn được. Tiên sinh như một cánh hạc trời, biết đâu mà tìm kiếm nữa. Vả lại những điều gì cần thiết, tiên sinh đã nói hết cùng ta. Chỉ tiếc là người hiền tài thế mà không chịu ra giúp đời. Nửa năm trời đi lại khẩn cầu, tiên sinh mới chịu xuống núi. Tiên sinh ở đúng nửa năm nữa rồi lại bỏ ra đi. Tiên sinh có phong độ của các bậc tiên thánh, ta ô trọc thế này sao có thể níu được chân người. Trần Thủ Độ hết tiếc nuối lại tự dày vò. Mãi lâu sau ông mới tĩnh tâm lại được. Ông sai đám gia nhân thường ngày phải quét dọn nhà cửa và giữ nguyên mọi thứ, như tiên sinh vẫn còn lưu trú tại đây. Ngay cả khu vườn thuốc, cũng phải chăm nom tưới tắm cho chu tất. Mãi ba ngày sau khi Hoàng tiên sinh đi rồi, Trần Thủ Độ mới lần hồi nhớ lại được các công việc tiếp nối cần làm. Nhớ lời khuyên bóng gió của tiên sinh như còn vẳng bên tai: “ Thế tất còn một việc trọng yếu nhất sau cuộc hôn nhân này, bao giờ mới được thực thi?”. Hỏi vậy, nhưng rồi tiên sinh lại chỉ ra: “Việc này làm càng sớm càng tốt. Bởi vì có chính danh vị mới định được danh phận”. Trần Thủ Độ hiểu ngay nghĩa bóng Hoàng tiên sinh muốn nói, là quyền lực phải thu về một mối. Thu về một mối ở đây cũng có nghĩa là phải triệt bỏ nhà Lý. Nhưng triệt bỏ bằng cách nào để cho trong ngoài đều êm thuận? Đó là việc làm cực khó. Trần Thủ Độ đã tính đếm lại các việc lớn đã làm trong thế cờ chuyển tiếp. Tháng mười năm ngoái - năm Giáp thân (1224) sách phong Chiêu Thánh làm Hoàng thái tử, Huệ tôn truyền ngôi. Rồi đúng một năm sau, tức là mới ngày hăm mốt tháng trước, Chiêu Hoàng - Trần Cảnh kết đôi. Cả hai việc đó đều lo đến són máu. Nhưng rồi thiên hạ cũng cho qua. Chắc các việc ta làm đều hợp lòng dân, thuận ý trời. Song thuận hay nghịch mà tránh được cho nước cái hoạ nồi da xáo thịt, thì thật là phúc lớn cho trăm họ. Ta thề sả thân. Cho dù các việc ta làm có bị bọn người thiển cận cản phá, bọn nho sĩ cổ hủ chửi rủa, bọn ngu trung chống đối, ta sẽ quét sạch mọi trở ngại để tiến lên vì nghĩa lớn. Dự liệu sẵn một kế sách ở trong đầu, Trần Thủ Độ liền bàn kín với với anh lớn là Trần Thừa và bà thái hậu Trần Thị Dung. Phải nói, không việc gì Trần Thủ Độ không bàn tính với Trần Thị. Vì từ khi phế truất thượng hoàng nhà Lý, cho ra ở chùa Chân Giáo, thì việc đi lại giữa Trần Thủ Độ với thái hậu là việc ngang nhiên. Trần Thị là một người có nhan sắc, tính tình kín đáo, chỉn chu. Bà không thuộc loại người dâm đãng ưa sự bướm ong. Gặp lúc thế nước nghiêng ngả, Huệ tôn lại bệnh hoạn điên khùng từ năm hăm ba tuổi. Vậy là ròng rã tám năm trời, bà phải sống với một phu quân điên loạn. Có chồng cũng như không. Trong khi đó Trần Thủ Độ hay gần gũi bàn việc cơ mật của hoàng gia. Tình là chị em, nghĩa là vua tôi. Trần Thủ Độ là một người khí chất cường tráng, việc làm dứt khoát, cao thượng hơn đời, tỏ ra là một đấng trượng phu, khiến cho Trần Thị không thể không yêu trọng. Lại điều sớm hôm gần gũi, đầu mày cuối mắt. Vả lại lửa gần rơm lâu ngày rồi phải bén, cũng là chuyện thường tình chứ đâu phải điều hy hữu. Nhân cuộc ái ân thầm lén vào một đêm khuya khoắt trước khi xẩy ra chuyện nhường ngôi, Trần Thủ Độ khéo lựa lời nói với bà thái hậu Trần Thị Dung: - Có một việc trọng yếu, ta muốn bàn kỹ với bà đêm nay, chẳng biết ý bà thế nào? Bà Dung mỉm cười, hỏi lại: - Còn việc trọng yếu hơn là việc ông dám đột nhập vào cấm cung? - Ta nói nghiêm túc, sao bà lại có ý giỡn ta? - Ô hay, ông tưởng điều ta nói là cợt đùa sao? Nếu quân thị vệ bắt được ông đang ở trong cung này, liệu ông có tránh khỏi hoạ chu di không? Vẻ khôi hài Trần Thủ Độ trêu lại: - Vậy tội của ta là ở chỗ đã để cho quân cấm vệ bắt được, còn ta đi lại với bà đâu có phạm vào các điều cấm kỵ. Nhưng thôi, bà cứ yên lòng, chính chúng nó đang canh cho ta vào đây bàn việc cơ mật với bà đấy. - Bấy lâu nay tôi vẫn coi ông là một bậc chính nhân quân tử, không ngờ ông lại tối tăm thế. Đem việc quốc sự vào chốn buồng the, ông định hù doạ tôi điều gì chăng? Bà thái hậu nói cứng vậy thôi, nhưng lòng đã thấy run run. Bà biết người tình của mình lắm. Ông ta là người mà bà không thể nào hiểu nổi. Cười nói đấy, đùa cợt đấy, nhưng vẫn kín bưng như một chiếc vò đậy nắp. Từ sau bữa được mục kích cảnh ông ta giam giữ Huệ tôn, rồi bức nhà vua phải xuất gia, thái hậu càng thấy ghê sợ con người âm mưu, quyền biến và ác độc này. Đôi phen lương tâm thức tỉnh, bà toan chặt đứt mọi mối dây ràng buộc giữa bà với Trần Thủ Độ, khôi phục kỷ cương cho nhà Lý, rồi mời lại Huệ tôn về chấp chính. Mới nghĩ vậy thôi, bà đã vội che mặt, nhắm mắt để không còn hình dung ra cái cảnh đầu rơi máu chảy. Bà dựa vào ai, và lấy cái gì để chống lại ông ta. Chao ôi, chỉ cần trái ý ông ta cũng đủ làm cho giông tố nổi lên rồi, nói chi đến chuyện chống trả. - Vậy chớ bà có ưng nói chuyện cơ mật ở đây không? Trần Thủ Độ nhắc lại và nhấn thêm: - Không ở đâu thuận tiện hơn chiếc bảo sàng của bà đây. Bà có nhớ, chính nơi đây bà đã sản sinh ra hai nàng công chúa. Và một trong hai đứa đang trị vì thiên hạ. Vừa nghe đến chuyện “Trị vì thiên hạ”, thái hậu bật cười khanh khách. Tiếng cười nghe man dại như có hồn ma bóng quỷ hiện hình. Ánh đèn lấp ló phía sau rèm hắt lên khuôn mặt bà những đốm sáng loang lổ, nom bà như thực, như mơ. Chính tiếng cười của bà làm cho Trần Thủ Độ giật mình, lạnh gáy. Ông ngồi dậy nhìn thẳng vào khuôn mặt bà, hai tay đặt lên bờ vai bà lắc lắc, và khẽ gọi: - Bà! Bà! Bà thái hậu! Một thoáng mơ màng, thái hậu khẽ rùng mình, rồi từ đôi khoé mắt bà lấp lánh nước. Đúng là bà mới trải qua một ảo giác khủng khiếp. Khi bà cất lên tiếng cười, chỉ với ngụ ý giễu lời thái sư nói về đứa con gái út của bà, mới tám tuổi “đang trị vì thiên hạ”. Nhưng cũng chính lúc đó, bà không tự chủ được nữa, không thể hé miệng nói được câu gì nữa. Và bà thấy bóng Huệ tôn vừa ló ra, thì có một người to lớn giấu đầu sau tấm mặt nạ, huơ thanh trường kiếm lên hớt vào sau gáy nhà vua. Chiếc đầu bay lên trời, va dòng huyết từ cổ nhà vua phụt lên như một cây bông máu. Tới lúc Trần Thủ Độ lay gọi, bà mới định thần, và lả người đi, buông tấm thân mềm nhũn vào lòng quan thái sư. Giây lâu, Thủ Độ vuốt ve bà rồi lại thủ thỉ: - Ta chắc hậu đang lo cho số phận con Chiêu Thánh với chiếc ngai vàng của nó. Thái hậu không trả lời, bà đặt bàn tay mềm yếu của mình lên bộ ngực trần đồ sộ như một tấm phản của thái sư. Đáp lại cử chỉ tin cậy của bà, Trần Thủ Độ đưa bàn tay thô nhám của ông thoa nhẹ lên má bà. Thái hậu có cảm giác như đức ông đang cầm chiếc chổi rễ tre chải lên mặt bà. Và ông ta lại nói: - Bà phải nhớ, tôi với bà nghĩa là chỗ trong nội tộc, tình là sự chung thân. Cho nên, nỗi lo của bà, là nỗi lo của chính tôi. Muốn nói gì thì nói, muốn lo gì thì lo, trước hết tôi phải tính đến sự hưng vong của đất nước, sự trường tồn của dòng họ Trần ta, và sự tồn tại của mẹ con bà và cả của tôi nữa. Vừa nãy, chắc bà cười giễu tôi về chuyện con Chiêu Thánh ở ngôi chứ gì? Bà thái hậu khẽ gật đầu. Thủ Độ nói tiếp: - Trong chuyện Chiêu Thánh lên ngôi, chẳng qua chỉ là bước mở màn của một tích trò. Không thể để như thế mãi được, trơ quá. Thái hậu hốt hoảng ngồi nhổm dậy, nói chẳng ra lời: - Vậy ông lại định phế truất con tôi. Lại giam nó vào lãnh cung như ông đã giam cha nó? Trần Thủ Độ đỡ nhẹ tấm thân bà thái hậu, rồi chải bàn tay xù xì lên mái tóc bà. Ông nói, giọng đều đều xa thẳm: - Một khi nó đã là con bà, thì nó cũng như con tôi. Bà phải biết, dữ như hùm sói, nó cũng không ăn thịt con nữa là người. Sở dĩ hôm nay tôi phải bàn bạc kỹ lưỡng với bà, cũng do chuyện con cháu nhà mình cả. Chắc bà không lạ gì, ngoài thì các thế lực đang kình chống ta, đang lăm le thôn tính. Trong thì các đại thần chưa phục. Cái chuyện dang dở hiện nay, người ta chưa biết rồi quyền nhiếp thống thiên hạ sẽ thuộc về ai. Lý hay Trần? Dòng đích họ Lý tuyệt tự rồi. Mà với họ Trần, thiên hạ đang ngờ răng tôi sẽ chiếm đoạt ngôi cao. Vì thế, tôi định bàn với bà, để con Chiêu Thánh nhường ngôi cho chồng nó. - Nhường ngôi! Thái hậu nhắc lại, lạc cả giọng. Bà thầm nghĩ: “Lại dở thêm cái trò gì nữa đây. Hoá ra không phải họ phò Chiêu Thánh như ta tưởng. Mà họ đang tìm cách diệt con ta”. - Vậy là ông toan tính chuyện cướp ngôi một lần nữa? - Không. Không phải chuyện soán đoạt gì mà bà phải hốt hoảng lên thế. Tôi chỉ muốn chúng nó nhường ngôi cho nhau. Thái hậu nài nỉ: - Cứ cho rằng chúng nó nhường nhau cái ngôi vị quân trưởng hờ kia. Ông thật khéo bầy đặt. Hai đứa cùng bằng tuổi nhau. Chúng nó đã biết gì đâu. Thằng chồng hay con vợ làm vua thì cũng có khác gì. Hãy cứ để cho chúng lớn khôn lên đã. Trần Thủ Độ chớm thấy mầm phản kháng nhen lên trong lòng bà thái hậu. Ông thầm nhủ: “Vậy là việc phải hoàn tất càng sớm càng tốt. Ngay người trong nhà còn khó bảo nhau nữa là người ngoài”. Ông thủ thỉ khuyên bà thái hậu: Tình thế không thể kéo dài mãi được đâu bà ơi. Ngoài biên thuỳ giặc Mông - Thát ráo riết nhòm ngó. Trong nước thì năm bè bảy mối. Nếu cứ để lắt lay dòng họ Lý nắm quyền đại thống, thiên hạ sẽ còn đua nhau giành giật. Bởi thế, ngôi quân trưởng phải đưa về cho Trần Cảnh. Đằng nào thì chúng cũng là con bà. Vốn là người mẫn nhuệ, bà Trần Thị Dung hiểu rằng tình thế không thể cưỡng lại được nữa rồi. Bà rùng mình kinh sợ về những cuộc thay bậc đổi ngôi. Mới chỉ cách đây hơn một năm, ngôi báu truyền từ Huệ tôn sang con gái bà, thì nhà vua chuyển từ cung đình vào lãnh cung. Đến lượt Chiêu Thánh phải nhường ngôi, liệu nó có phải chiếm chỗ của cha nó trong lãnh cung? Và bà từ một hoàng hậu nhảy vọt lên ngôi thái hậu, rồi lại tụt hẫng xuông hàng thê thiếp hay nô tỳ nữa chăng? Ác nghiệt lắm sao, người tình của bà làm lung lay chao đảo tất cả mọi ngôi thứ trong triều, mà không một kẻ nào dám động đến ông ta. Rồi mai đây số phận các bà, và cả chính bà nữa sẽ xô đẩy về đâu? Câu hỏi như một chiếc dây thòng lọng đang chờn vờn nhảy múa trước mặt bà, khiến bà hốt hoảng hét lên: - Không. Không thể như thế được! Con người mưu lược như Trần Thủ Độ, làm gì mà không nhìn thấu suốt nỗi băn khoăn lo sợ về danh vị của bà, của con bà. Ông cúi xuống đặt nhẹ lên trán bà một cái quệt môi. Rồi bàn tay thô nháp của ông lại vuốt vuốt trên bờ vai bà. Ông thủ thỉ nói, giọng đầm ấm như mơn trớn vỗ về, như khuyên bảo, răn đe: - Tôi định sắp xếp thế này, bà thấy có nên chăng. Chiêu Thánh làm hoàng hậu. Như thế nghe thuận hơn. Cảnh sẽ phong bà làm quốc mẫu. Vậy có khác gì ngôi thái hậu. Quyền bính vẫn nằm trong tay tôi. Tôi phải khuông phò chúng nó cho tới lúc đủ lông đủ cánh. Nếu bà có bụng yêu thương tôi, nay mai Hụê Quang viên tịch, tôi với bà kết nghĩa. Thử hỏi, thế thì bà và chúng nó chỉ có được thôi chứù mất gì đâu? Nghe những lời bàn bạc sắt đanh như lời của định mệnh phán truyền, thái hậu he hé làn mi nhìn Trần Thủ Độ, như là một sự miễn cưỡng nghe theo. Nhưng trong lòng bà giông bão đang cuồn cuộn nổi lên. Không biết mối dây oan nghiệt nào lại dẫn dắt bà đến với hai người đàn ông kỳ dị này. Có đúng bà ý thức được các việc cần làm và phải làm , hay bà cũng chỉ là con rối trong tay ông thái sư thống quốc. Chao ôi, cuối cùng rồi bà vẫn không thoát ra khỏi vòng tay khắc bạc của ông ta. Thôi thì mặc cho số phận. Bà đã tính đến chuyện liều. Một lát, Trần Thủ Độ lại ghé sát vành tai bà hỏi lại: - Vậy chớ ý bà thế nào? Bà khẽ thở dài, như trút đi nỗi bất lực đang dồn nén trong lòng ngực, và uể oải đáp lời: - Quyền bính trong tay, thấy thế nào là thuận, ông cứ theo đó mà làm. Bàn tính trong ngoài xong, Trần Thủ Độ sắp đặt mọi việc kín như bưng. Đúng ngày đại cát, nhằm ngày Mậu dần, mười một tháng chạp năm Ất dậu (1225), Chiêu Hoàng đặt đại hội ở điện Thiên An. Cả kinh thành vào hội. Đèn, hoa, cờ, phướn giăng mắc khắp nơi. Dân chúng nô nức kéo nhau đi xem đủ các trò. Trong nội điện, Lý Chiêu Hoàng ban tờ chiếu cho quan hàn lâm thị độc. Lời văn thống thiết, lại được quan thị độc tốt giọng, đọc như rót vào tai các đại thần, khiến mọi người đều xúc động. Tới đoạn: “… Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất vẹn tuyền, thực là thể cách hiền nhân quân tử, uy nghi chễm chệ, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao tổ, Đường Thái tôn cũng không hơn được. Sớm tối nghĩ kỹ, xét nghiệm từ lâu, nên nhường ngôi báu, để thuận lòng trời, để phu lòng trẫm…” Trần Thủ Độ dõi theo sắc mặt từng người, xem các quan có đồng lòng với chiếu nhường ngôi. Ông thấy mọi người bình thản. Biết rằng việc lớn sẽ êm. Dứt lời chiếu, các quan đều phủ phục dưới sân rồng. Chiêu Hoàng bước ra khỏi ngai, trút bỏ áo ngự và mũ miện khoác vào cho Trần Cảnh, khuyên mời chàng lên ngôi hoàng đế. Bá quan tung hô vạn tuế! Các quan dâng niên hiệu mới là Kiến trung. Liền theo đó triều đình tôn xưng Trần Thủ Độ làm quốc thượng phụ để coi việc thiên hạ. Thủ Độ cũng trần tình việc nước trước vua mới cùng bá quan văn võ. Triều hội đồng thanh tôn thánh phụ Trần Thừa làm thượng hoàng nhiếp chính, tạm trông coi việc nước để cho Thủ Độ rảnh tay dẹp giặc. Tan chầu, các quan được mời sang điện Nghênh Xuân để vua ban yến. Rồi tất cả đều trở về Long Trì dự hội. Ở đấy đã dựng lên một nhà tròn có bánh xe đẩy. Trong nhà đèn đốt sáng choang. Xung quanh trang trí những hình người cưỡi ngựa bắn cung, những tướng lĩnh đấu võ; voi, hổ chạy đùa, chim công múa nhảy, hạc đậu ngọn tùng… Cứ như thế chia làm bốn tầng. Mỗi tầng là một vòng tròn. Trong đó cứ hai vòng một quay ngược chiều nhau, nom vừa đẹp đẽ vừa vui mắt, vừa hoành tráng lộng lẫy. Chiếc nhà tròn tự đẩy về phía nhà vua và hoàng hậu. Chiêu Hoàng tròn xoe mắt kinh ngạc kéo tay Trần Cảnh. Từ nhỏ chưa được thấy trò này, Trần Cảnh nhìn không chán mắt. Bỗng ngôi nhà tròn dừng lại ngay nơi nhà vua và hoàng hậu ngự. Chiếc cửa cuốn bật ra, để lộ một bày vũ nữ xiêm y rực rỡ như tiên đang múa hát. Quan cận thị thự lục cục chi hầu Trần Bất Cập tiến lên vái nhà vua và hoàng hậu ba vái, rồi dẫn hai người bước vào nhà múa. Bọn vũ nữ dạt ra để nhà vua và hoàng hậu vào tới giữa nhà, rồi họ lại tiếp tục vừa múa vừa dâng rượu hầu vua. Khi ở ngoài, nhìn các hình người và súc vật chạy nhảy vòng tròn nom sống động như người thật, vật thật. Nay vào trong, nhìn tận mắt thấy toàn khung tre phất giấy màu, được ánh sáng dọi chiếu huyền ảo, đánh lừa con mắt người xem. Nhà vua và hoàng hậu đưa mắt kiếm tìm bốn phía không thấy có người điều khiển, bèn hất hàm hỏi tên trưởng trò: - Các người làm thế nào cho nó chạy? Người trưởng trò liền tra một chiếc lẫy giống hình chiếc lẫy nỏ vào góc cột. Lập tức cả ngôi nhà di chuyển trên các bánh xe. Hoàng hậu Chiêu Thánh vẫy tay lắc đầu: - Ta hỏi ngươi làm thế nào cho các vòng tròn kia nó quay? Người trưởng trò lại rút chiếc then ngay dưới mặt sàn, thế là tất cả các vòng quay xuôi ngược đều từ từ dừng lại. Khi nhà vua và hoàng hậu đều mỉm cười gật đầu, người kia đặt chiếc then máy xuống. Tất cả đều chuyển động như cũ. Vua khen mãi không thôi. Hết trò nhà múa, lại đến trò pháo bông. Cây pháo bông đặt trên một giá lớn có bốn bánh xe dẩy. Cây pháo cao mười hai tầng khuôn theo hình bảo tháp Đại thắng tư thiên ở chùa Sùng Khánh báo thiên(3). Một phát pháo hiệu thăng thiên, nổ tung trên nền trời sáng nhạt dưới ánh trăng mờ ảo. Pháo nổ bung ra hàng ngàn mảng sáng lấp lánh đủ sắc màu. Trống phách nổi lên, lập tức đội múa lân xuất hiện ngay dưới chân cây pháo. Người dũng sĩ đánh song đao, nhảy bổ vào đầu con kỳ lân. Kỳ lân khẽ rùng mình lùi lại ba bước, rồi nhảy chồm lên vồ tráng sĩ. Tráng sĩ luồn qua bụng kỳ lân. Kỳ lân uốn mình quay ngược lại toan dùng chiếc sừng nhọn hoắt đâm đối thủ. Bỗng “choang” một tiếng cực mạnh, con kỳ lân đã dùng sừng hất bay cả hai thanh đao của dũng sĩ. Dũng sĩ nhảy tót lên mình con kỳ lân. Cuộc đua tài giữa tráng sĩ trong đội quân thánh dực với con mãnh thú, khiến khách xem hò reo không ngớt. Một ông già áo quần đỏ, lưng thắt dải khăn xanh, đầu chít khăn vàng, quay về phía nhà vua và hoàng hậu vái ba vái. Đoạn ông quay lại cầm ba nén hương châm vào ngòi pháo nơi tầng một. Ngòi cháy loé ra màu sáng xanh ánh lửa diêm sinh. Một lát sau cháy tới tích trò. Lập tức hiện ra hai chữ Kiến trung. Đó là niên hiệu đầu tiên của triều đại nhà Trần, các quan mới dâng vào buổi thiết triều sớm nay. Vành sáng cháy mãi, khiến hai chữ đó rực hồng trên nền trời đêm. Các quan đều vỗ tay khen ngợi, và ai nấy đều thầm đoán: “Từ đây sẽ mở ra một thời kỳ sáng sủa”. Khi hai chữ Kiến trung sắp tàn, lại bùng lên một tích trò mới vẫn ở tầng thứ nhất. Một cuộc rước đèn kỳ lạ. Dẫn đầu là một chú rồng xanh miệng ngậm ngọc minh châu, thỉnh thoảng lại phun toé ra một ngụm lửa. Tiếp theo là voi, hổ, báo, gấu, ngựa, sư tử, đại bàng, công, trĩ…. mỗi con mang một kiểu đèn khác nhau. Mỗi đèn một màu khác nhau. Rồng treo chiếc đèn đỏ chói dưới chòm râu rậm. Voi đung đưa chiếc đèn xếp màu hổ phách nơi đầu vòi. Hổ ngậm quai chiếc đèn cá chép màu sáng bạc lung linh… Cứ mỗi con vật xuất hiện lại có tiếng gầm, rống, réo, hót y hệt như tiếng của loài muông, thú đó phát ra. Các trò chơi đang ngoạn mục thì tích trò tầng hai chợt xuất hiện. Đây là một cảnh quen thuộc trong đời sống xã hội thường ngày. Thoạt tiên là cảnh “Vua cày ruộng tịch điền”. Tiếp theo là chiếc thuyền đánh cá với ngư ông quăng chài. Rồi bác tiều phu đang ngồi nghỉ bên gánh củi vừa đốn xong. Lại bác nông dân đang cày ruộng với con trâu béo mập. Và cuối cùng là một nho sinh, đang nằm đọc sách dưới cây mai già, cạnh mái nhà tranh bên vách núi. Cứ như thế tầng nọ tiếp tầng kia, mỗi tầng là một tích trò lấy cảnh sinh hoạt trong dân dã. Cảnh chăn tằm, se tơ, dệt lụa. Cảnh quan quân đánh giặc. Cảnh hội làng với đủ các thứ trò chơi: vật, võ, chọi gà, đi kheo, thổi cơm thi…. Cuối cùng trên chóp đỉnh cao của tầng mười hai, có một bánh luân xa quay tròn, toé tung ra những chấm sáng loá đủ màu, như người vãi từng chùm hạt cải lân tinh. Rồi cũng từ bánh xe ấy, toả dần ra từng chữ một. Kết thúc là cả một dòng chữ khiến người ta đọc được: “Khải thiên lập cực chí nhân chương hiếu hoàng đế”. Đó là tôn hiệu triều đình dâng mừng vua mới - triều Trần Thái tôn. Xem các cảnh hội hè nô nức từ triều đình cho tới chúng dân, Trần Thủ Độ cảm động ứa nước mắt. Ông thầm nhủ: “Thế là trời trao nghiệp lớn cho họ Trần. Thuận lòng trời, hợp ý dân. Ta còn phải băn khoăn gì nữa”. Trần Thủ Độ chợt nhớ đến Hoàng tiên sinh. Lòng chạnh buồn: “Không biết thầy tàng ẩn nơi đâu?” Trên đây mới là vài cảnh hội sơ sài trong cung đình. Không thể so sánh với cảnh dân gian vui tấp nập diễn ra khắp kinh thành. ============= (1)Xem chú thích đôi câu đối tại chương IV. (2) Thảo thư: Chữ thảo có nhiều loại: Triện thảo, lệ thảo, chương thảo, kim thảo, cuồng thảo. Triện thảo, lệ thảo xuất xứ từ thời Tần, để thích ứng với nhu cầu công vụ khẩn cấp trong chiến tranh. Chương thảo thuộc đời Hán nguyên đế, do Sử Vu viết. Đây là lối chữ viết trong các tấu chương khẩn cấp. Ba loại thảo này tuy viết nhanh, nhưng các chữ đều phân biệt chứ không dính với nhau như loại kim thảo do Trương Trí đời Đông Hán viết. Loại cuồng thảo là do kim thảo biến hình đến độ không thể đọc được do Trương Húc, Hoài Tố đời Đường viết. (3) Đây là một ngôi chùa lớn do Lý Thánh tôn xuất của kho nhà nước ra xây dựng năm Bính thân (1056), đến năm Đinh dậu (1057) lại xây thêm tháp cao vài chục trượng, có 12 tầng. Riêng quả chuông đã xuất kho 1 vạn hai ngàn cân đồng để đúc. Dân gian chỉ gọi chùa này là chùa Sùng và tháp Báo thiên |
|
|
|
#13 |
|
Khách Ghé Thăm
Posts: n/a
|
Ðề: BÃO TÁP CUNG ĐÌNH-Hoàng Quốc Hải
CHƯƠNG 11 Nguyễn Nộn được tin Trần Thủ Độ đuổi Lý Huệ tôn ra chùa Chân Giáo, ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Nhà Lý mất. Nhà Trần bỗng dưng được thiên hạ. Nộn tức lắm, bèn họp tả hữu lại, Nộn nói: - Nhà Lý suy yếu. Đất nước chia năm sẻ bảy. Noi nơi đều dựng cờ nghĩa. Mạnh ai nấy được. Nay Trần Thủ Độ hiếp vua, làm nhiều điều càn rỡ, cướp lấy thiên hạ. Ta với các ông tụ nghĩa, dựng cờ, cốt để níu lại cơ đồ cho nhà Lý. Chẳng may Huệ tôn mắc chứng kinh phong, suốt ngày ở tít trong cung. Công việc triều chính lọt vào tay phe cánh họ Trần. Trần Thủ Độ núp dưới mệnh vua, khống chế triều đình, sai khiến thiên hạ, giương đông kích tây, chứ thực lực chẳng có gì. Ta hỏi các ông, tính liệu sao đây? Quy phục hay đem quân về hỏi tội bè đảng họ Trần? Tả hữu im phăng phắc. Nộn nghĩ: “Trần Thủ Độ là một tên táo tợn. Anh nó, Trần Tự Khánh ngày trước còn phải kiềng mặt ta. Vua sai nó đến hạch ta ở chùa Phù Đổng này tám năm về trước, vì có kẻ sàm tâu ta đào được vàng, không chịu nộp về triều. Chuyện chẳng đi đến đâu. Tự Khánh phải thay mặt triều đình dàn hoà với ta. Suốt tám năm nay ta hùng cứ một phương, thế lực ngày một mạnh. Ta đang mài nanh vuốt, nuôi chí lớn, chờ thời. Bỗng dưng mấy anh em tên thuyền chài phỗng tay trên. Ta thề không đội trời chung, không thể không băm vằm Trần Thủ Độ làm muôn mảnh”. Sực nhớ đang bàn việc lớn, Nguyễn Nộn ngẩng nhìn tả hữu, nói tiếp: - Ngày xưa Đinh Bộ Lĩnh, một mình cờ lau tập trận, mà bình được thiên hạ. Lý Thái tổ từ một chú tiểu, gặp thời cũng dựng nên nghiệp lớn. Ta với các ông so với các bậc tiền nhân thế nào? Chúng ta hơn hẳn. Quân đông, lương nhiều, tướng giỏi. Đoàn Thượng là thế lực lớn nhất ở phía đông, phải kiềng sợ… Triều đình cũng phải tôn trọng ranh giới ta đã vạch ra. Nếu bây giờ ta trương ngọn cờ “Phù Lý diệt Trần”, hẳn thiên hạ theo về ta như châu chấu gặp đèn. Thời cơ có một. Ý các ông thế nào, xin bày tỏ cho nhau được biết. Phó tướng Đào Dữu nói: - Tôi xuất thân là một người áo vải chân đất, theo tướng quan từ ngày đầu mở nghiệp. Xét thấy thiên hạ trong lúc đại loạn, tình thế nước Nam ta trong cả chục năm qua chẳng khác gì thời Chiến quốc bên Trung Hoa. Kẻ nào cũng nhân danh nhà Chu để tranh dành ngôi bá chủ, kỳ thực là tranh dành thiên hạ, thôn tính nhà Chu. Trần Thủ Độ có khác gì Tề Hoàn công. Ấy là tôi nói về thủ đoạn xảo trá, chứ nhân nghĩa thì sao sánh được với Hoàn công. Cho nên, trong khi kẻ kia ngồi chưa ấm chỗ, ta nên cất quân hỏi tội, chớ để lâu ngày dầy kén, thiên hạ khuất phục hết, thì ta còn làm gì được hắn. Nhìn thế chân vạc giữa ba nhà Nguyễn - Trần - Đoàn, chỉ có tướng quân là hơn cả. Trần Thủ Độ tuy là nhà hào phú, lắm của, nhiều quân, được xem là loại vũ dũng. Nhưng y xuất thân từ đám dân chài, lại vô học, hắn chỉ hùng hục như con trâu mộng húc bừa, không có gì đáng sợ. Đám võ biền ấy chỉ có được lợi thế, là chúng núp dưới danh nghĩa chính thống của nhà Lý. Còn như Đoàn Thượng, tuy xuất thân từ chốn quan trường, nhưng là đứa thất phu, hẹp lượng. Thượng so thế nào được với tướng quân. Cho nên bây giờ đánh Trần trước, hay đánh Đoàn trước để cướp lấy thiên hạ, là tuỳ ý tướng quân. Việc kíp lắm rồi. Nếu chần chừ là mất thời cơ, hai kẻ kia liên kết được với nhau, ta khó mà xoay trở. Phó tướng Đào Dữu vừa dứt lời, thì tiền quân hiệu uý Lê Bá Thạch tiếp luôn: - Nay kỷ cương đã rối. Bầy tôi hiếp vua. Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, tình thì thuận mà lý không xuôi. Hai đứa bé tám tuổi biết gì đến chuyện vợ chồng, ngôi báu. Đây là sự sắp đặt của Trần Thủ Độ. Cho nên việc ở ngôi của Trần Cảnh, phải khép Trần Thủ Độ vào tội soán đoạt. Tướng quân cất quân chuyến này, là chủ ở sự nhân nghĩa, sẽ qui tụ được thiên hạ. Tôi chỉ e một điều, Đoàn Thượng thiển cận thừa cơ đánh úp ta. Chi bằng ta hợp lực với y, hẹn cùng tiến về kinh. Tôi tuy bất tài, cũng xin đi dụ Đoàn Thượng, nói cho y rõ cái nhẽ chắc ăn sờ sờ ngay trước mắt. Nguyễn Nộn cười ha hả: - Các ông nói hợp ý ta lắm. Nhưng xin hỏi. Khi diệt xong đảng ác họ Trần rồi, ta làm thế nào? Chia đôi thiên hạ với Đoàn Thượng chăng? Nộn chưa dứt lời thì tướng tiên phong Quách Cự đã nói ngay: - Tâu chủ tướng. Quốc vô nhị vương(1). Diệt xong bè đảng họ Trần, ta diệt luôn cả thế lực họ Đoàn để trừ hậu họa. Thiên hạ không còn ai tranh đoạt với chủ tướng nữa, ngôi trời chẳng thuộc về chủ tướng còn thuộc về ai? Nộn bằng lòng lắm, bèn thét quân hầu dâng rượu. Rượu mới được một tuần, quân thám mã về báo có sứ giả của triều đình tới. Nộn hẹn các tướng cứ ăn uống bàn bạc, để mình ra tiếp sứ. Té ra sứ giả lại là quan thừa chỉ, bạn đồng môn với tướng quân Nguyễn Nộn. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, Nộn hỏi: - Tôi nghe nói ông được bổ đi an phủ sứ châu Nghệ An, sau lại triệu về trấn trị Trường Yên. Vậy thời, như thế là ông được tin dùng, hay bị đầy ải? Quan thừa chỉ mỉm cười nhìn thẳng vào người bạn cũ của mình, đáp: - Hai điều ông hỏi đều có cả. - Thế là thế nào? - Số là thế này, tôi nói để ông nghe, tình bằng hữu giấu nhau làm gì. Vả lại các việc cũng đã qua rồi. Nguyễn Nộn sốt ruột giục: - Ông nói đi, tôi vốn trọng ông là người có tài năng, có nhân cách vào bậc nhất thời nay. - Quan anh quá khen. Quan thừa chỉ chậm rãi đáp. Chắc quan anh biết tính tôi. Ngoài điều nhân nghĩa ra, trên đời không gì khuất phục nổi. Quan anh có nhớ dạo Trần Thủ Độ ép nhà vua phải sách lập Chiêu Thánh làm hoàng thái tử, rồi nhường ngôi cho Chiêu Thánh. Đúng bữa đó, quan anh đem quân tới Bồ Đềø rồi quay lại? - Đúng! Nguyễn Nộn vỗ đùi xác nhận - Tôi nghe nói cánh họ Trần soán đoạt ngôi trời, tức tốc đem quân về kinh. Tới Bồ Đề, đọc được tờ chiếu của vua, tôi bèn lui quân. Nghĩ rằng, Huệ tôn không có con trai mà cha truyền ngôi lại cho con, ấy là lẽ thường trong thiên hạ. Ai ngờ đấy lại là mưu ma kế quỷ của chúng nó. Quan thừa chỉ thở dài: - Bữa đó, tôi mong quan anh kéo quân qua sông Cái quá chừng! - Sao ông không nhắn cho tôi một lời? - Nguyễn Nộn hàm ý trách móc. - Có. Tôi có mật bàn với nhà vua. Đức vua cũng đã ưng thuận. Tôi bèn thảo chiếu Cần vương, mật ước với ông và Đoàn Thượng cùng đem binh về kinh, chúng tôi nội ứng. Mặt Nộn đỏ bừng bừng, đôi tròng mắt rực sáng lên, gặng hỏi: - Chiếu đâu? - Tiếc thay, quan thừa chỉ thở dài - chiếu đó lọt vào tay Trần Thủ Độ. - Việc lớn, sao các ông lại làm ăn hồ đồ thế? - Không phải tôi hồ đồ, mà Trần Thủ Độ mưu cao. Ông ta đoán định được mọi điều có thể xảy ra. - Tiếc quá! Tiếc quá! Nguyễn Nộn tỏ vẻ xót xa - Nếu việc đó không bại lộ, tôi cùng Thượng đem quân về, mọi sự xong cả rồi. Xong cả rồi! - Chưa chắc đâu ông bạn ạ. Quan thừa chỉ lắc đầu - Tôi là người thấy viêïc nghĩa thì xả thân làm, chứ mình tính chưa cặn nhẽ. - Thế là thế nào? Nộn hỏi. - Trần Thủ Độ có biết là ông thủ mưu không? - Biết! Ông ta biết quá đi chứ. - Sao y không giết ông? - Thế mới bực. Khi bắt được tang vật, ông ta lờ đi như không. Chỉ có điều giám sát nghiêm mật. Ba tháng sau, ông ta cho tôi ra coi châu Ngệ An. Trước khi đi, ông ta cầm tay tôi nói vài lời “Tôi giết ông thì dễ quá. Nhưng ích gì. Lập tức có cả trăm người dám vì ông mà dấy nghĩa. Tôi giết ông, mang tội giết người hiền. Đời nguyền rủa tôi. Người hiền bỏ tôi đi hết. Nhưng ông nghĩ mà xem, việc tôi, việc ông làm có gì khác? Giữa nhà Lý mà đứng đầu là một ông vua mất trí, và một bên là sinh linh trăm họ, ông coi bên nào trọng hơn? Tôi thà chịu tiếng bất trung còn hơn mang tiếng ngu trung. Tôi vì trăm họ chứ không vì đức vua. Tôi quyết sả thân để giang sơn đất nước không rơi vào cái hoạ tranh chiến thập nhị sứ quân, nồi da xáo thịt. Việc này tuỳ ông xử. Ra Nghệ An, ông có thể trương cờ nghĩa theo chiếu Cần vương, cùng với tướng quân Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng, ba mặt úp về kinh. Nếu việc các ông làm nhân nghĩa hơn tôi, tôi xin tự trói mình chịu chết, cho đất nước được thái bình”. - Thế ra tới Nghệ An ông đã làm những gì? Nộn hỏi. - Tôi làm tất cả mọi việc, ngoại trừ việc chống lại Trần Thủ Độ. - Nhưng ông chống lại đức vua. Nộn vặn. Quan thừa chỉ ung dung đáp: - Bởi đức vua chống lại trăm họ. Tướng quân cứ bình tâm, tôi có dẫn chứng đầy đủ. Tướng quân có biết vì sao tướng quân chống lại mệnh vua, hùng cứ một phương, xưng vương xưng bá không? - Vì vua vô đạo. Nộp đáp. - Vua vô đạo. Tức là tướng quân “tòng đạo bất tòng quân” (2). Đúng quá. Quan thừa chỉ xác nhận - Thế thì tại sao chỉ có tướng quân làm thế được, còn người khác lại không làm thế được? Việc làm của Trần Thủ Độ có khác gì tướng quân đã làm. Có điều rằng ông ta trên tài tướng quân, nên đạt được thành tựu cao hơn. Nguyễn Nộn sầm mặt lại, nói lớn: - Thằng thuyền chài sai ông đến đây làm gì? Nộn đứng dậy toan bỏ đi. Quan thừa chỉ vẫn ung dung, nói vừa đủ nghe: - Không có thằng thuyền chài nào sai khiến được tôi. Tôi đem chiếu phong vương của đức vua đến với ông. Ông nên nhớ rằng, cái người mà ông tôn thờ đó, đã mấy lần ông dâng biểu về xin phong vương không được. Nay vua mới, xét công đức của ông, không những phong vương mà còn cắt đất cho ông. Ông bầy nhang án, sửa sang áo mũ, để tôi đặt chiếu lên cho mà lạy tạ. Nguyễn Nộn không còn biết nói sao nữa, bèn hấp tấp đi làm các việc theo ý quan thừa chỉ. Nguyễn Nộn được phong làm Hoài đạo vương, lại được triều đình cắt cho đất huyện Đông ngàn và các vùng Bắc Giang thượng hạ. Nộn thích lắm, sai may sắm áo, mũ, tàn lọng, xe kiệu. Ba ngày sau, Nộn lại đọc được thư của Trần Thủ Độ mật sai đi đánh Đoàn Thượng. Nguyễn Nộn họp tả hữu bàn kế tiến binh đánh Đoàn Thượng. ======== 1. Quốc vô nhị vương. Chữ Hán có nghĩa là nước không thể có hai vua. 2. Lời của Mạnh Tử có nghĩa: Theo lẽ phải chứ không theo vua. |
|
|
|
#14 |
|
Tập sự
Join Date: Dec 2005
Posts: 18
Thanked 4 Times in 3 Posts
|
Ðề: BÃO TÁP CUNG ĐÌNH-Hoàng Quốc Hải
cau chuyen hap dan nha
|
|
|
|