View Single Post

Old 06-05-2006, 07:48 PM   #1
vipngheo
Thiên Thần Bóng Đêm
 
vipngheo's Avatar
 
Join Date: Mar 2006
Location: ở nhà chứ ở đâu
Posts: 978
Thanked 7,771 Times in 504 Posts
Tình yêu Định Mệnh - Alexandre Dumas

Phần I
LỄ HỘI LĂNGĐI
Một buổi sáng rực rỡ giữa tháng sáu năm một nghìn năm trăm năm mươi chín, một đám đông ước từ ba đến bốn mươi nghìn người chen chúc đầy quảng trường Xanhtơ Giơnơvievơ.
Một người đàn ông vừa chân ướt chân ráo từ tỉnh lẻ tới, đột nhiên lọt vào giữa thành phố Xanh Giắc, vô cùng bối rối nghĩ rằng cái đám người thật đông đảo tụ tập trên địa điểm này của thủ đô nhằm mục đích gì.
Trời thật quang đãng: vậy không phải là buổi lễ rước thánh tích Giơnơvievơ như năm 1951 để cầu chấm dứt mưa.
Đêm trước, trời đã đổ mưa: vậy cũng không phải là lễ rước thánh tích Giơnơvievơ để cầu đảo như năm1556.
Người ta cũng không hoảng loạn về chiến trận khốc liệt như thảm hoạ Xanh Căngtanh (Xanh Căngtanh: là thị trấn của Pháp bị quân Đức chiếm ngày 28-8-1914, bị tàn phá một phần và được giải phóng ngày 2-10-1918.N.D), vậy cũng không phải người ta diễu hành lễ rước thánh tích Giơnơvievơ để cầu Chúa phù hộ.
Rõ ràng là đông đảo dân chúng kéo nhau tập trung trên quảng trường tu viện cổ này để dự một lễ trọng.
Nhưng lễ trọng gì đây?
Không phải ngày lễ hội tôn giáo vì, dẫu ta có nhận thấy đây đó trong đám đông vài tấm áo tu sĩ nhưng những bộ áo đáng tôn kính này không đủ số lượng để đem cho lễ hội tính chất tôn giáo.
Cũng không phải ngày lễ hội của quân đội vì số quân nhân rất ít ỏi, vả lại họ không mang theo cả thương kiếm lấn súng hoả mai.
Đây cũng không phải ngày lễ hội của giới quý tộc vì ta không thấy nhô khỏi đầu người những lá cờ nhỏ có đính huy hiệu của các quý tộc bay phơ phất hoặc những chiếc mũ có gắn những chòm lông của các lánh chúa.
Trong đám người đông nghẹt hàng ngàn màu sắc ấy, trà trộn quý tộc, thầy tu, kẻ cắp, thị dân, gái làng chơi, người già cả, những người làm trò ảo thuật, phù thuỷ, dân Bôhêmiêng, thợ thủ công, những ngừơi mang những vật vô giá trị, kẻ bán rượu bia; những người này cưỡi ngựa, những kẻ khác cưỡi lừa, cưỡi la, người ngồi xe ngựa (trong năm này người ta vừa sáng chế ra xe ngựa) thì số người đông đảo nhất đi đi lại lại, xô đẩy chen lấn nhau để đến được trung tâm quảng trường, theo chúng tôi là đám học sinh thuộc bốn quốc tịch: Êcôtxơ, Anh, Pháp, Ý.
Thật ra là thế này: đây là ngày thứ hai đầu tiên sau ngày lễ thánh Bacnabê(11-6) và chính là để đi tới lễ hội Lăngđi mà cả đám dân chúng đông đúc này đã tụ họp lại.
Có lẽ từ này thuộc ngôn ngữ thế kỉ thứ mười sáu không nói lên được điều gì với độc giả cả. Vậy chúng tôi xin giải thích về lễ hội Lăngđi là thế nào.
Xin độc giả thân mến hãy lưu ý! Chúng tôi xin nói về ngôn ngữ học, không hơn không kém một viện sỹ hàn lâm về tu từ và mĩ học.
Từ La tinh “indictum” có nghĩa là một ngày và một địa điểm được ấn định cho một cuộc hội họp nào đó của dân chúng. Chữ i trước hết được đổi thành ơ rồi thành a. Sau đó đáng lẽ người ta nói “anhddictum” thì lần lần người ta nói là “anhđich” rồi gọi lại là Lăngđi.
Tóm lại từ này có nghĩa là ngày giờ và địa điểm được ấn định cho một cuộc họp.
Vào thời Xaclơmanhơ, cứ mỗi năm một lần, ông vua người Đức này định đô ở Achxơ-La-Sapen lại cho những kẻ hành hương được nhìn thánh tích trong giáo đường.
Xaclơ nói những thánh tích này từ Achxơ về Pari và cứ mỗi năm một lần cho dân chúng được ngắm nhìn những thánh tích ấy trong một lễ hội được tổ chức tại đại lộ Xanh Đơnit.
Giới tăng lữ ở Pari rước những thánh tích tới đây và giám mục đến làm lễ ban phước cho dân chúng, nhưng đó là những phước như của cải tương lai hoặc hoa trái gần gặn: ông không có quyền ban phát chúng như ông muốn; còn giới tăng lữ ở Xanh Đơnit lại đòi hỏi chỉ họ mới có quyền ban phước trên đất đai của họ và lưu ý nghị viện Pari coi giám mục là kẻ tiếm quyền.
Sự vụ được tranh chấp quyết liệt và phe này kiện tụng phe kia thật hùng hổ đến nỗi nghị viện không còn biết phe nào trong hai phe có lý và trước vụ lộn xộn do họ gây ra đã có quyết định lầm lẫn là cho cả giám mục phe này lẫn tu sĩ phe kia đều được đặt chân đến lễ hội Lăngđi.
Riêng viện trưởng Viện đại học được hưởng những đặc ân đã công bố hằng năm, ông có quyền đến lễ hội Lăngđi vào ngày thứ hai trong tuần sau ngày lễ thánh Bacnabê để chọn giấy viết tại đây cho tất cả học trò của mình. Lệnh còn cấm các thương nhân đến lễ hội không được mua một tờ giấy nào trước khi ông viện trưởng đã mua đủ hàng cho ông.
Cuộc đi dạo này của Viện trưởng kéo dài trong nhiều ngày khơi gợi cho đám học sinh có ý nghĩ là đi theo ông: họ xin phép ông việc này. Họ được phép và kể từ lúc ấy, cuộc du ngoạn diễn ra hằng năm với tất cả vẻ trọng thể và hoa mĩ không tả xiết.
Các viên quản lí và học sinh cưỡi ngựa tập trung tại các quảng trường Giơnơvievơ để từ đây đi đến bãi cỏ lễ hội một cách trật tự. Đạo quân này đến địa điểm của họ khá yên tĩnh; nhưng một khi đến đây thì đoàn diễu hành nhận thấy, đến tiếp xúc với họ là tất cả mọi dân Bôhêmiêng, mọi kẻ phù thuỷ (vào thời này người ta tính ở Pari có tới ba mười nghìn), tất cả đám con gái và đàn bà mờ ám (về bọn này chưa bao giờ có con số thống kê) ăn mặc quần áo con trai, mọi tiểu thư ở thung lũng tình yêu ở Xô-gaya, ở phố Fria-Măngten: một đạo quân thực sự có vẻ gì đó giống như một cuộc di dân lơn vào thế kỉ thứ tư, do sự khác biệt này mà các mụ này đáng lẽ là những kẻ man rợ lại là rất văn minh.
Đến bãi cỏ Xanh Đơnit, từng người dừng lại, xuống ngựa, lừa, là của mình; rũ bụi bám vào ủng, giày nếu là đi bộ, hoà mình vào đoàn người đáng kính mà họ tìm cách tạo ra những âm thanh ồn ã. Họ ngồi ăn dồi lợn hoặc dăm bông, ba tê; họ uống để kéo dài đôi má ửng hồng của các bà với số lượng kinh khủng, bình rượu vang trắng của mọi vùng dân lân cận như Xanh Đơnit, La Britxơ, Epinay-Lê-Xanh Đơnit, Acgiăngtơi. Những cái đầu bốc lên về chuyện tình ái và đồ uống: thế là lọ bay đi, giăm bông lăn lông lốc. “Cậu gào đấy à! Đưa rượu Rutxơ không pha nước lại đây cho tớ!Rượu trắng nào! Dốc cạn đi, vì quỷ hãy dốc cạn đi! Trăm bàn tay hãy trao cho tửu bảo như Biariuyt để rót rượu không hề mệt đi! Lưỡi xúc tớ mất rồi, bạn ơi! Hãy can đảm lên!”. Người ta đã đưa vào chương năm cuốn Gacgantua vào hành động.
Trời đẹp, đúng hơn là không khí vui vẻ thích hợp như thời tiết mà Rabơle, linh mục Mơđông khi viết tác phẩm “Gacgantua và Brăngtom”, tu sĩ Buốcđây viết cuốn “ Những bà lẳng lơ”.
Khi đã ngà ngà say, họ hát hò, ôm hôm nhau, cãi nhau, thốt lên những lời điên rồ, chửi rủa những người qua lại. Họ cần được nô đùa thoả thích, thật quái quỷ.
Vậy là đối với những người đầu tiên rơi vào tay họ, họ mở đầu bằng những lời lẽ tuỳ tính cách từng người, nhưng cuối cùng đều dẫn tới những chuỗi cười giễu cợt, những lời thoá mạ hoặc những quả đấm.
Phải tới hai mươi nghị định của nghị viện để chấn chỉnh những vụ lộn xộn này, thêm nữa như để thử nghiệm, cuối cùng người ta buộc phải chuyển đổi lễ hội từ cánh bãi vào trong thành phố nhưng vẫn ở Đơnit.
Vào năm 1550, người ta đã ra quyết định rằng, tại lễ hội Lăngđi, mỗi người trong bốn trường trung học của bốn quốc tịch như người ta gọi vào thời ấy chỉ được cử mười hai đại diện tham dự kể cả các viên quản lý. Thế là lại xảy ra chuyện này:
Những học sinh không được phép đi dự lễ hội liền cởi bỏ đồng phục học sinh để mặc những bộ quần áo ngắn, đội mũ có màu sắc, đi giày bó, thêm vào đó, dựa vào các loại y phục phóng đãng ấy, thay cho thanh kiếm bị cấm đối với họ, họ được quyền đeo đoản kiếm và họ đến Xanh Đơnit bằng mọi ngả đường, theo câu phương ngôn: “mọi con đường đều dẫn tới La Mã”, và dưới những sự cải trang của họ, họ thoát khỏi sự kiểm soát ngặt nghèo của các thày giáo. Thế là tình trạng càng hỗn loạn hơn nhiều so với trước khi ban hành luật lệ chỉnh đốn trật tự ở đây.
Lúc này vào năm 1559, nghe được lệnh cho đoàn người bắt đầu giễu hành thì cách một trăm dặm, người ta đã nghĩ ngay đến những điều quái gở mà họ sẽ lao vào một khi tới địa điểm.
Lần này, như thường lệ, đoàn giễu hành kì cục chuyển động khá êm ả tiến vào thành phố Xanh Giắc không gây náo động lớn; nhưng vừa đến trước pháo đài Satơlê thì bật lên những tiếng hò la nguyền rủa hệt như chỉ những đám dân chúng ở Pari biết thốt lên những lời ấy( vì một nửa số thanh niên của đám dân này chắc chắn chỉ nghe phong thanh biết ở pháo đài này có những nhà giam ngầm dưới đất) và sau cuộc biểu dương như vậy luôn luôn là một sự khuây khoả nhẹ nhàng, đoàn diễu hành đi vào trong phố Xanh Đơnit.
Độc giả thân mến, chúng tôi đã đi trước đoán diễu hành, chiếm chỗ trong cái thành phố tu viện Xanh Đơnit và tham dự vào một hồi của lễ hội có liên quan tới câu chuyện mà chúng tôi muốn kể cho các bạn.
Lễ hội chính thức đúng là trong thành phố, đặc biệt là phố lớn mà các bác thợ cạo, những người bán rượu vang, bán thảm, bán hàng tạp hoá, bán quần áo,bán đồ thắng ngựa, yên cương, dây đai, đinh thúc ngựa, những thợ thuộc da, là giày dép, những người bán thùng, những kẻ đổi tiền, những thợ kim hoàn, những người bán hàng xén và nhất là những chủ quán, đã ở kín trong các căn nhà mà họ đã xây dựng cách đó hai tháng.
Những ai đã từng dự lễ hộ Bôke nổi tiếng cách đây hai mươi năm hoặc đơn giản là lễ hội Lôdơ thì có thể phóng đại cảnh tượng hai ngày lễ này gấp bội sẽ có được ý niệm thế nào là lễ hội Lăngđi.
Còn những ai tham dự đều đặn lễ hội Lăngđi hằng năm mà cho đến ngày nay người ta vẫn còn tổ chức ở quận Sen thì trước cảnh lễ hội ngày nay không sao hình dung nổi lễ hội Lăngđi khi xưa như thế nào.
Thật thế, thay cho những áo chùng thâm u tối ấy giữa mọi lễ hội đã làm cho những người ít u uẩn nhất cũng phải rầu lòng coi như một kỉ niệm tang tóc, như một loại chống lại sự phiền muộn, bà chúa của cái xã hội khốn khổ ấy, chống lại niềm vui hầu như một sự tiếm quyền ở đây; là tất cả cái đám đông mặc y phục bằng dạ màu sắc rực rỡ, bằng vải dát vàng bạc, những áo lông thú có đường viền, có cài lông vũ, có dây đeo bằng nhung, bằng hàng cứng có viền vàng, bằng sa tanh dát bạc; tất cả cái đám dân chúng ấy lấp lánh dưới ánh mặt trời hầu như hất trả lại cho mặt trời những ánh sáng của những tia sáng chói lọi nhất của chúng. Chưa bao giờ có sự xa hoa đến thế, thực sự phô bày từ giới thượng lưu đến tầng lớp thấp hèn của xã hội, và mặc dầu từ năm 1543, đầu tiên là hoàng đế Frăngxoa đệ nhất, tiếp đến là vua Hăngri đệ tứ đã ban hành những đạo luật nghiêm ngặt nhưng những luật lệ này không bao giờ được thi hành cả.
Giải thích về sự xa hoa chưa từng thấy này thật hết sức đơn giản. Việc khám phá ra Tân thế giới của Côlông và Amêric Vetspuytxơ (Amêric Vetspuytxơ, là nhà hàng hải sinh tại Florăngxơ (Ý) đã bốn lần đến Tân thế giới sau khi Côlông đã phát hiện ra), những chuyến thám hiểm của Fecnăng, Cootedơ(Fecnăng Cooctedơ: đại uý người Tây Ban Nha xâm chiếm Mêhicô năm 1519, nổi tiếng tàn bạo) và Pigiarơ (Pigiarơ: nhà thám hiểm người Tây Ban Nha xâm chiếm Peru với sự giúp đỡ của anh em ông ta và bị địch thủ giết ở Lima)trong vương quốc Cathay nổi tiếng do Maccô Pôlô chỉ dẫn; đã ném một lượng lớn tiền bạc của toàn châu Âu khiến một văn sĩ thời ấy đã than phiền về sự xa hoa quá mức, về giá cả thực phẩm tăng lên, theo ông đã gấp hơn bốn lần trong tám mươi năm.
Vẻ đặc sắc của lễ hội trong thành phố khác hẳn ngoài bờ sông. Đúng là lệnh của nghị viện chuyển địa điểm lễ hội vào trong thành phố, nhưng lệnh của dân chúng còn mạnh mẽ hơn, lại chuyển địa điểm lễ hội đến bờ sông. Như vậy trong thành phố Xanh Đơnit chỉ là chợ phiên còn bên mép nước con sông mới thực sự là lễ hội. Không có gì để mua bán cả, chúng ta hãy tới bờ sông nằm dưới đảo Xanh Đơnit và khi đến đây rồi, chúng ta sẽ được thấy và nghe những gì sẽ xảy ra.
Cuộc diễu hành mà chúng ta đã thấy xuất phát từ quảng trường Xanh Giơnơvievơ đi theo phố Xanh Giắc, hò reo chào pháo đài Satơlê rồi đi dọc phố Xanh Đơnit vào trong nghĩa trang hoàng gia quãng giữa mười một giờ và mười một giờ rưỡi; thế là như đàn cừu đến đồng cỏ được thả rông, đám học sinh tách khỏi quản lí và toả ra, một số đi vào các cánh bãi, số khác vào thành phố, số còn lại đến bờ sông Sen.
Đối với những trái tim không âu sầu (những trái tim hiếm hoi nhưng vẫn có đấy) phải thừa nhận đây là một khung cảnh thú vị khi trông thấy đó đây dưới ánh mặt trời, trong chu vi một dặm các học sinh tươi trẻ độ tuổi đôi mươi nằm ngả nghiêng dưới chân các thiếu nữ xinh đẹp mặc áo ngắn bằng sa tanh đỏ có đôi má ửng hồng và chiếc cổ trắng mịn màng.
Đôi mắt Bôcatxơ(Bôcatxơ là thi sĩ và văn sĩ Ý, tác giả tác phẩm Đêcamêrông đã làm giàu ngôn ngữ Ý.) hẳn phải xuyên qua tấm thảm xanh rờn của bầu trời để âu yếm ngắm cảnh Đêcamêrông phi thường này.
Phần đầu lễ hội diễn ra khá tốt đẹp: ai khát thì uống, ai đói thì ăn; người ta ngồi, người ta nghỉ ngơi. Rồi những câu chuyện trở nên ồn ào, những cái đầu bốc hoả. Có trời mới biết được số bình rượu đầy, vơi, lại đầy, lại cạn rồi lại đầy và cuối cùng là vỡ tan để người nọ ném mảnh vỡ vào người kia.
Vào quãng ba giờ, bờ sông đầy những bình, lọ và đĩa, cái còn nguyên vẹn, cái thì vỡ, những tách rượu đầy và những chai rỗng; những đôi lứa ôm nhau lăn lộn trên thảm cỏ, những ông chồng lấy những người xa lạ làm vợ, những người vợ lấy nhân tình làm chồng. Bên mép nước, như chúng tôi tả, xanh tươi, mát mẻ vừa trước đó chói lọi như một làng ở các ven sông Acnô(Acnô: con sông từ Tôtcan(Ý) chảy qua Florăngxơ và đổ ra Địa Trung Hải.) thì giờ đây giống như quanh cảnh Tơniê (Tơniê: bức hoạ dân chúng trong các tửu quán, chợ phiên do Tơniê vẽ.)dùng làm khung cho một
chợ phiên xứ Flăngđrơ lầy lội.
Đột nhiên nổi lên một tiếng thét khủng khiếp:
- Quăng xuống nước đi! Quăng xuống nước đi!-Người ta la hét.
Mọi người đứng bật dậy; những tiếng la ó rộ lên gấp bội.
- Quẳng tên tà giáo xuống nước đi! Hãy quẳng tên tín đồ Tin lành xuống nước đi! Ném tên tà giáo Canvanh (Tin lành), con bò cái Côlat xuống nước đi! Quẳng xuống sông đi! Quẳng xuống nước đi! Ném xuống sông đi!
- Có chuyện gì thế?-Hai mươi tiếng, trăm tiếng, nghìn tiếng thét hỏi.
- Chuyện nó báng bổ phạm thánh! Chuyện nó nghi ngờ Thượng đế, nó đã nói bậy là trời sắp mưa đấy!...
Có thể lời buộc tội ấy lúc đầu là vô hại nhất thì nay tạo nên hậu quả lơn lao cùng cực trong đám dân chúng. Đám đông đang vui chơi bỗng nổi cơn thịnh nộ thấy những trò vui của họ bị xáo động bởi một cơn giông bão; đám đông đang mặc những bộ áo cánh diện ngày lễ hội của họ sẽ bị mưa làm hư mất.
Qua lời giải thích ấy, những tiếng gào thét la ó lại rộ lên hung hãn hơn. Người ta sán lại gần nới phát ra những tiếng la hét ấy và dần dân đám đông tại địa điểm này chật ních người đến ngay cả gió cũng khó lọt qua.
Đứng giữa nhóm này hầu như tự mình làm nghẹn thở một chàng trai độ tuổi hai mươi mà ta dễ dàng nhận ra là một học sinh cải trang hầu như chết ngạt bởi đám đông đang vùng vẫy, má tái xanh, môi nhợt nhạt nhưng bàn tay nắm chặt như chờ đón những kẻ tấn công gan dạ hơn những kẻ khác. Đáng lẽ chàng kêu la thì lại thủ thế như để chống lại tất cả những điều sẽ gặp phải trong hai khối người vũ trang bằng những nắm đấm khép chặt.
Đây là chàng trai cao lớn tóc hung hơi gầy và mảnh dẻ có vẻ như một thiếu nữ thanh lịch ăn mặc giả trai mà lát nữa chúng tôi sẽ nói tới. Đôi mắt chàng khi cụp xuống biểu lộ sự trong sáng đến kì lạ, nếu muốn dành cho một bộ mặt người sự khiêm nhường thì hẳn không thể chọn bộ mặt nào khác bộ mặt chàng trai này.
Vậy chàng đã phạm tội gì đến nỗi tất cả đám đông này đeo bám chàng, để cả đám người hung hãn này rủa sả sau lưng chàng, để mọi cánh tay của họ vươn ra với ý định quăng chàng xuống sông.
Chương 2

GIẢI THÍCH SAO ĐÂY KHI TRỜI MƯA VÀO NGÀY THÁNH MÊĐA(1) THÌ MƯA BỐN MƯƠI NGÀY LIỀN
Như chúng tôi đã kể ở chương trên, chàng trai ấy là tín đồ đạo Tin lành và chàng báo trước là trời sắp mưa.
Sự việc ban đầu thật rất bình thường, các độc giả sẽ thấy:
Chàng trai tóc hung dạo bước dọc bờ sông có vẻ đang chờ đợi một bạn trai hoặc một bạn gái. Từng lúc chàng dừng lại nhìn mặt nước rồi sau khi chán nhìn nước, chàng nhìn thảm cỏ; cuối cùng chán nhìn thảm cỏ, chàng ngước nhìn bầu trời.
Ta có thể thấy rõ đó là cử chỉ đơn điệu nhưng phải thừa nhận là vô hại. Nhưng một vài kẻ mừng lễ hội theo cách của họ lại cảm
(1)Ngày lễ thánh mồng 8 tháng 6
thấy khó chịu trước cách mừng lễ hội Lăngđi của chàng trai này. Rất nhiều gã thị dân lẫn một số học sinh và thợ thủ công lại lộ hẳn vẻ bực dọc trước việc chàng trai không hề chú ý tới họ.
- A! -Một giọng thiếu nữ thốt lên – Em không tò mò nhưng em muốn biết vì sao người đàn ông trẻ tuổi kia lại say sưa nhìn nước, nhìn đất, nhìn trời liên tục như thế.
- Em muốn biết chuyện này à, Pêret của trái tim anh? -Một gã thì dân trẻ vừa lẳng lơ uống rượu vang trong cốc của thiếu nữ nọ vừa uống tình yêu trong sóng mắt ả.
- Đúng thế, Lăngđri, em sẽ tặng cho ai nói cho em biết điều này một chiếc hôn mãnh liệt.
- A! Pêret, đối với một phần thưởng thật ngọt ngào như vậy, anh muốn em đòi hỏi một việc gì khó hơn kia.
- Em lại thích thế cơ.
- Em hãy cho anh bằng chứng của em?
- Bàn tay em đây.
Gã thị dân trẻ tuổi hôn bàn tay thiếu nữ rồi gã đứng lên.
- Em sẽ được biết chuyện này –Gã nói.
Kẻ được thiếu nữ gọi tên là Lăngđri liền đứng lên và đi gặp người ngắm cảnh đơn độc và câm lặng.
- Chà chà! Thưa ngài trẻ tuổi –Gã nói với chàng – Tôi không dám ra lệnh cho ngài nhưng muốn hỏi vì sao ngài lại nhìn bãi cỏ như vậy? Ngài đã mất vật gì chăng?
Chàng trai nhận ra người này nói chuyện với mình liền quay lại, lễ phép ngả mũ chào và đáp lại người hỏi hết sức lịch thiệp:
- Ngài nhầm đấy, thưa ngài, tôi có nhìn bãi cỏ đâu mà nhìn sông đấy.
Sau khi thốt ra vài lời này, chàng xoay qua hướng khác.
Lăngđri hơi chưng hửng: gã không chợ đợi câu trả lời lễ phép như vậy. Sụ lễ độ ấy làm gã xúc động. Gã quay lại nhóm của gã, gãi tai:
- Thế nào?-Pêret hỏi gã.
- Này, chúng mình lầm rồi – Lăngđri trả lời, vẻ khá thiểu não -Hắn không nhìn bãi cỏ đâu.
- Vậy hắn nhìn gì?
- Hắn nhìn sông nước.
Họ phá lên cười vào mũi viên sứ giả làm gã đỏ mặt vì xấu hổ.
- Và anh đã không hỏi vì sao hắn lại nhìn sông chứ?-Pêret nói.
- Không – Lăngđri trả lời - hắn ta xử xự thật lễ độ đối với anh làm anh nghĩ rằng sẽ thật sơ suất để hỏi hắn câu thứ hai.
- Hai cái hôn cho ai sẽ đi hỏi hắn vì sao hắn nhìn con sông – Pêret nói.
Ba hoặc bốn gã ham thích liền đứng lên. Nhưng Lăngđri nói rắng chính gã đã làm việc này thì để chính gã sẽ kết thúc.
Người ta công nhận lời tuyên bố của gã là chính đáng.
Vậy là gã quay trở lại với chàng trai tóc hung và hỏi lần thứ hai.
- Chà chà! Thưa ngài trẻ tuổi, tại sao ngài lại nhìn sông như vậy?
Cảnh cũ lại tái diễn. Chàng trai ngả mũ quay lại và đáp, vẫn lễ độ với kẻ hỏi mình:
- Xin ngài thứ lỗi, thưa ngài, tôi có nhín sông đâu, tôi nhìn trời đấy chứ!
Nói xong chàng trai chào gã và quay sang hướng khác.
Nhưng Lăngđri lúc đầu bị lúng túng bởi câu trả lời lần thứ hai giống như đã bị bối rối trước câu trả lời lần thứ nhất, tin rằng danh dự của gã bị xúc phạm và nghe thấy những tràng cười rộ của các bạn gã, gã lại thấy can đảm nắm lấy vạt áo chàng học sinh:
- Thế thì, thưa ngài trai trẻ - Gã khẩn khoản – xin ngài làm ơn nói cho tôi biết vì sao ngài nhìn trời?
- Thưa ngài- Chàng trai đáp- Xin ngài vui lòng cho tôi biết vì sao ngài hỏi chuyện này?
- Thế thì tôi sẽ xin giải thích thẳng thắn với ngài, thưa ngài trẻ tuổi.
- Ngài hẳn làm tôi vui lòng thưa ngài.
- Tôi hỏi ngài chuyện này vì những người của nhóm tôi cảm thấy bị châm chọc thấy ngài từ một giờ nay đứng bất động như một cái cọc và vẫn chỉ một hành động ấy.
- Thưa ngài – chàng học sinh trả lời- tôi đứng bất động vì tôi đợi một bạn thân của tôi, tôi đứng vì có đứng như vậy tôi mới nhìn thấy anh ấy từ khá xa. Vì anh ấy chưa đến, tôi lo lắng chờ đợi anh ấy và sự e ngại mà tôi cảm thấy đã đẩy tôi bước đi, tôi nhìn xuống đất để tránh giày của tôi không bị những mảnh bình rải rác trên bãi cỏ làm rách; rồi tôi nhìn sông để thư giãn sau khi đã nhìn đất, cuối cùng tôi nhìn trời để thư giãn sau khi đã nhìn sông.
Đáng lẽ gã thì dân coi sự giải thích rõ ràng như thế, có nghĩa là đúng sự thật trong sáng và giản dị thì gã lại cho rằng mình bị giễu cợt nên mặt đỏ bừng như những cây mào gà mà ta trông thấy đỏ rực trong những cánh đồng cỏ và đồng lúa mì từ xa.
- Và ngài có tính rằng, thưa ngài trẻ tuổi – Gã thị dân vừa thúc ép vừa chống tay lên hông trái vẻ khiêu khích và ngả người ra sau – ngài có tính đến việc ngài dành khá nhiều thì giờ vào cái trò chướng tai gai mắt này không?
- Tôi tính sẽ dành thì giờ vào việc này cho tới khi nào bạn tôi tới gặp tôi, thưa ngài nhưng…
Chàng trai ngước nhìn trời.
- Tôi không tin rằng tôi có thể chờ đợi sự hài lòng của anh ấy…
- Tại sao ngài không chờ đợi nữa?
- Bởi vì có một cơn mưa dữ dội sắp đổ xuống, thưa ngài, mà cả ngài, cả tôi, cả bất cứ ai đều không thể ở lại giữa trời trong mười lăm phút nữa.
- Ông nói rằng trời sắp mưa ư? – Gã tư sản nói với vẻ một người tin rằng người ta giễu cợt mình.
- Mưa rào, thưa ngài! – Chàng trai bình thản đáp.
- Hẳn là ông muốn đùa cợt đấy hẳn, hỡi người trẻ tuổi.
- Tôi xin thề với ngài tôi không hề muốn thế chút nào thưa ngài.
- Vậy thì ông muốn nhạo tôi phải không?- Gã thị dân giận dữ hỏi.
- Thưa ngài, tôi xin nói với ngài rằng tôi không hề có ý nào muốn đùa cợt với ngài cả.
- Vậy tại sao ông lại nói với tôi rằng trời sắp mưa trong lúc trời đang quang đãng như thế này? – Lăngđri gầm lên, ngày càng nổi giận.
- Tôi nói trời sắp mưa vì ba lý do.
- Ông có thể cho tôi biết ba lý do ây chứ?
- Xin sẵn sàng nếu điều đó làm ngài vui long.
- Điều đó làm tôi hài lòng.
Chàng trai lễ phép cúi mình vẻ ngụ ý “ông thật dễ thương thưa ông, nên tôi không có điều gì phải khước từ ông cả”.
- Tôi chờ nghe ba lý do của ông đây – Lăngđri nói, bàn tay nắm chặt lại và nghiến chặt răng.
- Lý do thứ nhất thưa ngài – Chàng nói – đó là hôm qua trời không mưa nên là lý do để hôm nay trời mưa.
- Ông nhạo báng tôi đấy hử, thưa ông.
- Không chút nào cả.
- Vậy thì chúng ta hãy xem lí do thứ hai.
- Lý do thứ hai là trời bị mây che phủ suốt đêm qua, suốt cả sớm mai và còn bị che phủ trong lúc này.
- Đây không phải là một lý do vì để trời mưa thì trời phải đầy mây, ông nghe rõ chứ?
- Ít ra đó là một khả năng.
- Nào, hãy xem lý do thứ ba của ông: chỉ có có điều tôi báo trước cho ông biết là không khá hơn hai lý do trên thì tôi nổi giận đấy.
- Nếu ngài nổi giận, thưa ngài, thì đó là vì ngài có tính cách đáng ghét đấy.
- A! Ông nói là tôi có tính cách đáng ghét phải không?
- Tôi nói là còn tùy theo điều kiện chứ không phải ngay lúc này.
- Lý do thứ ba, thưa ông, lý do thứ ba?
Chàng trai xoè bàn tay ra.
- Lý do thứ ba để trời mưa, thưa ngài, đó là trời mưa.
- Ông đoán rằng, trời mưa ư?
- Tôi không đoán, mà là khẳng định.
- Thật không thể tha thứ được- Gã tư sản không nén nổi thốt lên.
- Chỉ lát nữa chắc chắn sẽ xảy ra như vậy- chàng trai nói.
- Ông tin rằng tôi sẽ chịu đựng được điều này hử? – Gã thì dân tức điên người thét lên.
- Tôi tin rằng ngài sẽ không chịu đựng được điều đó hơn tôi – Chàng học sinh nói- và nếu tôi có một lời khuyên cho ngài thì đó là ngài hãy làm như tôi sắp làm là đi kiếm một chỗ trú ẩn.
- A! Thật quá quắt,- Gã tư sản gào lên và quay lại nhóm tư sản của gã.
Gã nói với tất cả những ai nghe được tiếng gã:
- Mọi người hãy lại đây! Hãy lại đây, cả những người khác nữa!
Gã thị dân tỏ ra cực kì hung hăng làm cho ai nấy nghe tiếng gọi của gã đều chạy lại.
- Có chuyện gì thế?- Những mụ đàn bà giọng chua như dấm hỏi.
- Chuyên gì xảy ra à?- Lăngđri cảm thấy được ủng hộ nói – Có những chuyện không tưởng tượng nổi xảy ra.
- Những chuyện gì thế?
- Chuyện là có một người hoàn toàn muốn tôi nhìn thấy sao giữa trưa.
- Tôi xin lỗi ngài, thưa ngài – Chàng trai nói hết sức nhã nhặn – trái lại, tôi đã nói với ngài rằng bầu trời đã bị mây che khủng khiếp.
- Đúng là một bộ mặt, thưa ông học sinh, ông có nghe thấy không? Đúng là một bộ mặt.
- Trong trường hợp này, đó là một bộ mặt xấu xa.
- Ông nói rằng tôi có bộ mặt xấu xa hả? – Gã thị dân rống lên chói tai do máu gã bốc lên tai nên đã nghe nhầm hoặc cố ý nghe nhầm – A! Thật quá quắt! Thưa quý vị, các vị có thấy là cái gã kì cục này đang giễu cợt chúng ta ư.
- Giễu cợt ư - Một tiếng nói cất lên – Chà, có thể đấy.
- Với tôi cũng như với ông, với tất cả chúng ta đây, đó là một tên đùa giỡn xấu xa muốn tiêu khiển đã nghĩ đến điều tồi tệ là mong muốn trời mưa để gây trò tinh quái đối với tất cả chúng ta.
- Thưa ngài, tôi xin thề với ngài rằng tôi không hề mong muốn trời mưa, xét rằng nếu trời mưa, tôi sẽ bị ướt đẫm như ngài và ở mức độ lớn hơn nhiều vì tôi cao hơn ngài tới tám đến mười phân
- Có nghĩa rằng ta là một giống chó nhỏ hả?
- Tôi không nói một lời nào như thế, thưa ngài.
- Một tên lùn hả?
- Đây là một lời nguyền rủa vô cớ. Ngài cao trên một mét sáu mươi, thưa ngài.
- Ta không hiểu cái gì giữ ta lại để không ném mi xuống nước! Lăngđri gào lên.
- A! Đúng đấy, ném xuống nước đi! Quẳng xuống sông đi! - Nhiều tiếng nói cất lên.
- Khi ngài ném tôi xuống nước, thưa ngài – Chàng trai nói với vẻ lễ độ bình thường – thì ngài cũng không kém bị ướt đẫm hơn.
Qua câu trả lời này chàng trai đã tỏ ra chỉ riêng chàng có trí tuệ hơn mọi người đã làm cho mọi người quay lại chống chàng. Một gã cao lớn sáp lại nửa giễu cợt, nửa đe doạ:
- Này, tên ác nhân – Gã nói với chàng - tại sao mày dám nói trời mưa trong lúc này hả?
- Bởi tôi cảm thấy có những giọt mưa.
- Mưa nhỏ giọt – Lăngđri thét lên – không có mưa thế mà nó nói là sắp có mưa lớn.
- Vậy là mày a tòng với một kẻ chiêm tinh hả? – Tên cao lớn hỏi.
- Tôi không a tòng với một ai cả, thưa ông – Chàng trai trả lời, bắt đầu nổi giận – cũng không cả với ông là người đã xưng mày tao với tôi.
- Quẳng xuống nước đi! Quẳng xuống nước đi! - Nhiều tiếng nói gào lên.
Thế là chàng học sinh cảm thấy giông tố nổi lên dữ dội liền nắm hai bàn tay lại chuẩn bị chiến đấu. Vòng người bắt đầu dày đặc vây lấy chàng.
- Này! - Một người mới tới nói – Mêđa(1) đấy!
- Mêđa là cái thá gì? - Nhiều tiếng hỏi cất lên.
- Đó là vị thánh mà hôm nay đúng là
(1)Mêđa: là giám mục, sinh ở Salăngxi năm 456. Ông mất ngày mồng 8-6-545.
ngày giỗ đấy - Một gã vui nhộn nói.
- Được! - Một gã nhận ra chàng trai liền nói – tên này không phải một vị thánh vì nó là một tên tà giáo.
- Một tên tà giáo! – Đám đông thét lên – Hãy ném tên tà giáo xuống nước đi! Hãy quẳng tên tín đồ Tin lành xuống sông đi! Ném tên vô đạo xuống nước đi!
Mọi tiếng nói đồng thanh nhắc lại:
- Quẳng xuống nước đi! Quẳng xuống nước đi! Quẳng xuống nước đi!
Chính những tiếng la ó này làm gián đoạn lễ hội mà chúng tôi đang miêu tả.
Đúng lúc ấy, Thượng đế như thật sự muốn đem đến cho chàng trai sự cứu giúp mà chàng rất cần tức là người mà chàng chờ đợi, một hiệp sĩ đẹp trai trạc hai mươi hai tuổi có bộ mặt cao sang như một quý tộc và qua dáng điệu rõ là một người ngoại quốc. Con người mà chàng trai chờ đợi như chúng tôi đã kể đang hối hả chạy đến, xuyên qua đám đông đã ở cách bạn chừng hai mươi bước chân đúng lúc chàng trai bị túm cả trước sau, cả chân lẫn đầu, giãy giụa hết sức mình.
- Cậu hãy giữ mình, Mêđa! – Người mới đến kêu to - Cậu hãy bảo vệ mình!
- Các người hãy coi đó chính là Mêđa! - Người vừa nói với chàng trai đó là to.
Coi việc mang cái tên ấy là một tội lỗi, cả đám đông gào lên:
- Ừ, Mêđa đấy! Ừ, Mêđa đấy! Hãy ném Mêđa xuống nước đi! Quẳng tên tà giáo xuống nước đi! Quẳng tên tín đồ Tin lành xuống nước đi!
- Làm sao một tên tà giáo lại dám cả gan mang danh một vị thánh vĩ đại như thế! – Pêret thốt lên.
- Quẳng tên phạm tội bất chính xuống nước đi!
- Và những kẻ đã tóm bắt Mêđa khốn khổ liền lôi chàng tới mép sông.
- Cứu mình với, Rôbơc! – Chàng trai kêu lên cảm thấy không thể chống đỡ nổi đám đông này và thây cái chết đã tới tột đỉnh của trò đùa.
- Ném tên kẻ cướp xuống sông đi! - Những mụ đàn bà gào thét, nổi cơn tam bành trong sự thù hằn cũng như trong tình yêu.
- Cậu hãy giữ mình, Mêđa! - Người lạ mặt vừa rút kiếm ra vừa hét lên - Cậu hãy giữ mình, mình đây!
Dùng bản kiếm quật bên phải, bên trái đám đông, chàng lăn mình trên thảm cỏ như một tảng băng. Nhưng chàng đến vào lúc đông nghẹt người và những cố gắng của chàng muốn đám đông này phải giãn ra đã trở nên vô ích: họ nhận đòn, rống lên vì đau đớn nhưng không giãn ra. Sau khi rống lên vì đau đớn thì họ rống lên vì điên dại.
Người mới đến với âm giọng lạ làm ta có thể nhận ra đó là người Êcôtxơ, quật đập túi bụi nhưng không thể tiến lên nổi hoặc nhúc nhích được chút ít và ban chàng sẽ nằm dưới nước trước khi chàng đến gần bạn. Hai mươi nông dân và năm, sáu gã lái đò trà trộn trong đám đông. Chàng Mêđa khốn khổ cố sức cấu những bàn tay, dùng chân đá hậu, nghiến răng nhưng mỗi giây chàng lại bị lôi đến gần mép sông.
Chàng trai xứ Êcôtxơ chỉ còn nghe thấy những tiếng kêu la của bạn chàng mỗi lúc một sát mép nước. Chàng không kêu nữa mà gầm lên và cứ mỗi tiếng gầm thét thì bản kiếm hoặc đốc kiếm của chàng lại giáng vào một cái đầu. Đột nhiên những tiếng la thét rộ lên gấp bội rồi là một sự im lặng, ta nghe thấy tiếng một thân hình nặng nề rơi tùm xuống nước.
- A! Lũ kẻ cướp! A! Lũ sát nhân! A! Lũ giết người – Chàng trai thét lên tìm cách đến sát con sông để cứu bạn hoặc chết cùng bạn.
Nhưng vô ích. Muốn xô đổ một bức tường đá hoa cương thì cũng y hệt như đối với bức tường thành sống này. Chàng lùi lại mệt lử, răng nghiến chặt, mép sùi đầy bọt, trán đẫm mồ hôi. Chàng lui đến đỉnh dốc để nhìn qua đầu đám đông nhưng chàng không thấy đâu Mêđa nhô lên mặt nước. Đứng trên đỉnh dốc, tay đặt trên đốc kiếm, khi không còn thấy gì xuất hiện nữa, chàng đưa mắt nhìn xuống đám đông hung hãn; ghê tởm nhìn bọn người ác độc này.
Đứng một mình, mặt tái xanh trong y phục màu đen, chàng giống như một thiên thần hủy diệt gập cánh lại để nghĩ ngơi chốc lát. Nhưng chỉ một lát sau, cơn điên lại sục sôi trong lồng ngực chàng như dung nham trong núi lửa đã dâng lên nóng bỏng tận đôi môi chàng.
- Tất cả lũ ngươi là đồ kẻ cướp – Chàng nói - tất cả lũ ngươi đều là sát nhân, tất cả bọn ngươi là đồ ô nhục! Các ngươi lấy bốn mươi người để sát hại, để dìm xuống nước một chàng trai khốn khổ không hề làm điều gì xấu cho các ngươi. Ta thách đấu với tất cả bọn ngươi. Bọn ngươi có bốn mươi người hãy lại đây, ta sẽ lần lượt giết cả bốn mươi, kẻ trước kẻ sau như lũ chó là bọn ngươi!
Bọn nông dân, tư sản và học sinh nhận được lời mời chết chóc ấy không ngăn nổi nỗi lo ngại sẽ có được sự may mắn trong một cuộc chiến đấu bằng gươm dáo với một con người tỏ ra sẵn sàng sử dụng kiếm một cách quyết liệt như thế. Thấy thế, người Êcôtxơ khinh miệt tra kiếm vào vỏ.
- Hỡi lũ đốn mạt! các ngươi là những kẻ vừa hèn nhát vừa đê tiện- chàng xoè bàn tay lên đầu đám đông nói tiếp – Nhưng ta sẽ trả thù cho cái chết ấy bằng cách ít khốn nạn như các ngươi bởi vì các người không xứng đáng với lưỡi gươm của nhà quý tộc. Vậy hãy lùi lại, bọn thô bỉ xấu xa! Và mưa, và mưa đã có thể tàn phá ruộng nho của các ngươi, làm đổ rạp mùa màng của các ngươi bằng cách mưa trút xuống cánh đồng của các ngươi số ngày bằng số người của bọn ngươi đã giết hại chỉ một người.
Thật không chính đáng nếu để vụ giết người này không bị trừng phạt, chàng rút ở thắt lưng ra một khẩu súng ngắn cỡ lớn bắn vào giữa đám người không cần ngắm. Chàng nói:
- Phó mặc cho Trời!
Trong tiếng súng nổ, tiếng đạn rít lên và một tên trong số người vừa xô đẩy chàng trai xuống nước thốt lên một tiếng kêu rên, đặt bàn tay lên ngực, lảo đảo và đổ sập xuống chết tươi.
- Còn nay, chào tạm biệt! – Chàng nói – Các ngươi sẽ còn nghe đến tên ta hơn một lần nữa. Tên ta là Rôbơc Stuya.
Vừa nói dứt lời này thì những đám mây chồng chất trên bầu trời từ sáng sớm đột nhiên vỡ ra và như chàng Mêđa tội nghiệp đã từng báo trước, một trận mưa như thác đổ chưa từng xảy ra trong các mùa mưa.
Những nông dân tất nhiên chạy đuổi theo chàng khi thấy những lời nguyền rủa của chàng trong chốc lát thực sự có hiệu qủa; nhưng tiếng sấm rền, nước tuôn xối xả thành thác, ánh chớp loá mắt như báo cho họ biết ngày tận thế buộc họ phải bận tâm hơn sự trả thù, tức là lúc này, tất cả mọi người đều mạnh ai nấy chạy.
Mưa trút ròng rã bốn mươi ngày không rớt.
Chính vì lẽ đó, thưa độc giả thân mến, chí ít chúng tôi tin rằng khi trời mưa vào ngày lễ thánh Mêđa thì mưa tầm tã bốn mươi ngày liền.
Chương 3

QUÁN “NGỰA TÍA”
Chúng tôi không bỏ công để kẻ với độc giả về số năm, sáu chục nghìn người dự lễ hội Lăngđi chạy chốn những nơi nào do bất chợt gặp cơn hồng thuỷ mới phải tìm chỗ trú ẩn trong các căn lều, dưới các mái nhà, trong các tửu quán, thậm chí vào cả đại giáo đường hoàng gia.
Vào thời nay, thành phố Xanh Đơnit chỉ vỏn vẹn có năm hoặc sáu quán trọ, trong chốc lát đã chật ních người đến nỗi có vài người đã phải hối hả chạy ra ngoài nhanh hơn lúc vào, nghĩ rằng thà chết vì ngập mưa còn hơn chết ngạt vì hơi người nồng nặc.
Quán trọ duy nhất hầu như trống vắng hẳn do may mắn tách biệt là quán “ngựa tía” nằm trên đường cái cách thành phố Xanh Đơnit hai hoặc ba tầm đạn súng hoả mai.
Ba con người tạm thời ở trong căn phòng rộng ám khói mà người ta gọi khoa trương là phòng khách; trừ gian bếp và vựa thóc ngự trị trên nền nhà dùng làm buồng ngủ cho những người coi lừa ngựa và lái buôn súc vật, thì riêng căn phòng khách là cả quán trọ.
Quán có vẻ như một cái lán to được chiếu sáng qua chiếc cưa ra vào cao tới tận mái, trần làm theo kiều vòm với những dầm xà lộ rõ ngả xiên theo mái.
Y hệt trong chuồng, một số súc vật: chó, mèo, gà, vịt lúc nhúc trên ván sàn và thay cho chú quạ mỏ rỗng trở về và chim bồ câu càm nhánh ô liu, ta thấy quanh các dần xà ám khói đen sì, bay lượn ban ngày là lũ én và ban đêm là đàn dơi. Đồ gỗ của căn phòng này là các thứ cần thiết cho một quán trọ gồm những chiếc bàn tròn, những chiếc ghế tựa và ghế đẩu khập khiễng.
Ba con người ở trong phòng này là chủ quán, vợ gã và một người khách trạc ba mươi, ba mươi lăm tuổi.
Chúng ta hãy nghĩ xem vì lẽ gì mà ba nhân vật này lại tập hộp ở đây và họ bận tâm đến điều gì.
Chú quán với tư cách là chủ nhà nên chúng tôi nói tới trước trong cảnh này đang bận tâm để không làm gì cả; gã ngồi như cưỡi ngựa trên một chiếc ghế tựa nhồi rơm ở trước cửa, tựa cằm lên đỉnh lưng tựa, làu bàu nguyền rủa thời tiết xấu.
Vợ chủ quán ngồi hơi lùi sau chồng để có được ánh sáng quay guồng, đưa sợi xoắn bằng tay lên miệng đẻ kéo sợi gai ở con cúi.
Người khách đáng lẽ tìm chỗ sáng sủa thì trái lại, ngồi lọt sâu trong góc tận cùng của căn phòng, quay lưng ra cửa có vẻ đang uống rượu căn cứ qua chiếc bình và chiếc cốc vại đặt trước mặt người này.
Tuy nhiên chàng hầu như không nghĩ tới uống; tì khuỷu tay lên bàn, đâu úp vào lòng bàn tay, chàng đắm chìm trong cơn mơ màng.
- Thời tiết thật tồi tệ! -Chủ quán làu bàu.
- Ông than vãn cái gì? - Người vợ nói – Chính ông đã mong thế cơ mà.
- Đúng thế, nhưng tôi đã sai lầm.
- Vậy thì ông đừng than vãn nữa.
Trước lời trách móc ít an ủi mà đầy lí lẽ ấy, chủ quán bèn cúi đầu thở dài nín lặng. Nhưng sự nín lặng ấy chỉ kéo dài chừng mười phút rồi chủ quán lại ngẩng đầu nhắc lại:
- Thời tiết thật tồi tệ!
- Ông đã nói thế rồi - Người vợ nói.
- Thế thì tôi còn nhắc lại nữa.
- Ông có nói thế đến đêm cũng chẳng ích gì, phải không nào?
- Đúng thế, nhưng điều đó cho tôi được phỉ nhổ sấm sét, mưa và mưa đá.
- Tại sao ông không phỉ báng ngay Chúa có được không?
- Nếu tôi tin rằng chính Chúa đã gây nên thời tiết như thế này.
Chủ quán dừng lời.
- Ông phỉ báng chống Chúa. Nào, hãy thú nhận ngay điều này đi.
- Không,bởi vì…
- Vì sao nào?
- Vì tôi là con chiên ngoan đạo chứ không phải là một con chó tà giáo.
Nghe thấy những lời “Tôi không phải là con chó tà giáo”, người khách trong quán “ngựa tía” như một con mèo trong cạm bẫy, thoát khỏi dòng suy tư, ngẩng đầu lên đập mạnh chiếc cốc bằng thép trắng xuống bàn làm chiếc bình rượu nhảy bật lên còn chiếc cốc bị bẹp dí.
- Này này! – Chàng chồm lên ghế như chiếc bình đã nhảy trên bàn; chủ quán tưởng khách gọi liền trả lời: “Tôi đây, thưa tôi ông trẻ tuổi”.
Chàng trai xoay chiếc ghế của mình băng chân ghế sau và quay người cùng chiếc ghế, mặt đối mặt với chủ quán đã đứng trước mặt chàng rồi chàng nhìn gã từ chân lên đầu không cất cao giọng nhưng nhíu lông mày:
- Hẳn không phải ông vừa thốt lên những lời “chó tà giáo” chứ?
- Đúng là tôi, thưa ông trẻ tuổi- chủ quán đỏ mặt ấp úng.
- Thế thì, nếu đúng là ông, chủ quán gàn dở ạ -Khách nhậu nói tiếp – thì ông chỉ là một con lừa mất dạy và ông xứng đáng bị người ta xẻo tai.
- Tha lỗi cho tôi, thưa quý ngài, nhưng thật tình tôi không biết ngài theo đạo Tin lành, - chủ quán run cả tứ chi nói.
- Điều đó chứng tỏ rằng ông đúng là một tên ăn mày - Người theo giáo phái Canvanh tiếp tục nói không hề cất cao giọng- còn một chủ quán, kẻ phục dịch mọi người thì cần phải giữ mồm giữ miệng bởi vì y có thể nghĩ rằng đáng lẽ phục dịch một con chó Cơ đốc giáo thì lại phải phục dịch một tín đồ đáng kính của Luyte và Canvanh(1).
Chàng quý tộc nhấc chiếc mũ mềm ra khi nói tới tên hai người trên. Chủ quán cũng làm theo. Chàng quý tộc nhún vai nói:
(1)Luyte là nhà cải cách tôi giáo người Đức- Canvanh sinh ở Noayông(Pháp) là nhà truyền giáo cải cách ở Pháp và Thuỵ Sĩ.
- Nào, một bình rượu vang khác và mong rằng tôi không còn được nghe ông thốt lên tiếng tà giáo hoặc là tôi sẽ đâm thủng bụng ông như chọc thủng thùng rượu cũ, ông nghe rõ chứ, ông bạn?
Chủ quán đi giật lùi vào bếp lấy một bình rượu vang mới theo khách đòi hỏi.
Trong lúc đó chàng quý tộc đã xoay nửa vòng ghế đẩu sang phải và đã lẩn vào bóng tối, lưng lại quay ra cửa thì chủ quán đã trở lại đặt bình rượu vang nhỏ trước mặt chàng.
Chàng quý tộc lặng lẽ giơ chiếc cốc bị bẹp để cho gã đổi cho chàng chiếc khác.
Chủ quán không hé nửa lời, đưa mắt và lắc đâu ngụ ý “Quỷ tha ma bắt! Tay này mà nện hẳn hắn nện ra trò đây”. Rồi gã lại đưa cho người môn đồ Canvanh chiếc cốc nguyên vẹn.
- Tốt lắm - Người này nói- Như vậy thì ta yêu các chủ quán biết bao.
Chủ quán cố mỉm cười một cách dễ thương nhất với chàng quý tộc và trở về chỗ ngồi của gã ở trước cửa.
- Này! -Vợ gã hỏi vì mụ đã nghe giọng chói tai của người tín đồ Canvanh nhưng không hề nghe được một lời nào trong các câu trao đổi giữa chồng mụ và người khách –Ngài trẻ tuổi kia nói gì với mình thế?
- Điều ông ấy nói với tôi ư?
- Phải, tôi hỏi mình chuyện ấy.
- Những lời tâng bốc nhất – Gã trả lời- rằng rượu vang của tôi là hảo hạng, rằng quán của tôi thật tuyệt và ông ấy ngạc nhiên thấy một cái quán như thế này mà sao không đắt khách.
- Còn mình trả lời ông ấy ra sao?
- Rằng cái thời tiết chết tiệt này là nguyên nhân của sự lụn bại của chúng ta.
Vào lúc con người này của chúng ta chuyển hưởng phỉ báng thời tiết lần thứ ba thì Chúa trời như cho gã một sự đính chính làm xuất hiện cùng lúc hai người khách mới dẫu họ đến từ hai hướng ngược nhau, một người đi bộ, người kia cưỡi ngựa. Người đi bộ có vẻ là một võ quan giang hồ đến qua ngả đường bên trái là đường đi Pari; người cưỡi ngựa mặc y phục thị đồng đến qua đường bên phải là đường đi Flăngđrơ.
Nhưng lúc sắp bước qua ngưỡng cửa quán thì đôi chân người đi bộ nằm ngay dưới chân ngựa.
Người đi bộ thốt một câu chửi thề và tái mặt. Chỉ riêng câu chửi thề này đã nói rõ nguồn gốc xứ sở của người chửi.
- A! Đồ trời đánh thánh vật! – gã kêu lên.
Người cưỡi ngựa, một kị sĩ tài ba, xoay ngựa nửa vòng sang trái, nâng bổng hai chân trước của ngựa; chàng nhảy xuống trước khi chân con vật chạm đất rồi vội chạy đến chân con người bị thương nói giọng hết sức ân cần:
- Ôi! Thưa đại uý, tôi hết lòng xin lỗi ông.
- Ông có biết rằng, thưa ông thị đồng - người Gatscông nói – suýt nữa ông làm tôi vỡ sọ không?
- Xin ông hãy tin rằng, thưa đại uý, tôi cảm thấy việc này làm tôi buồn ghê ghớm.
- Thế thì xin ông hãy yên tâm, thưa chủ nhân trẻ tuổi của tôi –Viên đại uý nhăn mặt đáp lộ vẻ chưa hoàn toàn chế ngự được cơn đau của mình – xin ông hãy yên tâm, ông vừa hiến cho tôi một sự viên trợ to lớn mà thực lòng tôi không biết phải cảm ơn việc này bằng cách nào; tôi nói thế không muốn làm ông nghi ngờ việc này.
- Một sự viện trợ ư?
- To lớn! - Người Gatscông nói.
- Vậy là sao, lạy Chúa tôi? – Chàng thị đồng hỏi khi thấy nét xúc động giày vò bộ mặt người đối thoại đã phải gắng sức để không hề chửi thề thay vì mỉm cười.
- Thật hết sức đơn giản – Viên đại uý nói tiếp- trên cõi đời này chỉ có hai điều làm tôi đau đầu ghê ghớm: đó là những gái già và những đôi ủng mới; thế mà từ sáng nay tôi bị vướng víu vì đôi ủng mới mà tôi cần phải đi từ Pari đến đây. Tôi đã tìm cách để nhanh chóng làm hỏng chúng vậy mà chỉ trở tay, ông vừa hoàn thành cái việc tuyệt diệu ấy vì niềm vinh quang bất diệt của ông. Vậy xin ông hãy quan tâm tới tôi và trong mọi trường hợp, hãy sử dụng tôi là kẻ tự nhận là ngừơi chịu ơn ông.
Chàng thị đồng nghiêng mình nói:
- Thưa ông, ông là con người thông tuệ, điều đó không làm tôi ngạc nhiên khi nghe câu chửi thề của ông chào đón tôi, ông là con người lịch thiệp, điều này không làm tôi ngạc nhiên khi đoán rằng ông là một nhà quý tộc: tôi chấp nhận tất cả những gì ông hiến cho tôi và về phần tôi, tôi sẵn sàng phục vụ ông.
- Tôi đoán rằng ông tính dừng lại ở quán này phải không?
- Vâng, thưa ông, trong chốc lát – Chàng trẻ tuổi trả lời trong lúc cột ngựa vào một cái vòng gắn trên tường khiến mặt chủ quán sáng lên vì mừng khi thấy chàng trai buộc xong ngựa.
- Tôi cũng vậy – Viên đại uý nói – Này chủ quán quỷ ám, hãy mang rượu vang lại đây, mà là loại hảo hạng đấy nhé!
- Có ngay ạ, thưa các tôn ông! Chủ quán đi vội vào bếp và nói – Có ngay đây ạ.
Năm giây sau, gã quay lại với hai bình rượu và hai chiếc cốc đặt lên bàn bên cạnh bàn của chàng quý tộc đầu tiên đang ngồi.
- Này ông chủ quán – Chàng thị đồng trẻ tuổi hỏi giọng dịu dàng như giọng thiếu nữ- trong quán của ông có căn phòng nào để một thiếu nữ có thể nghỉ ngơi trong một hai giờ không?
- Chúng tôi chỉ có độc một gian phòng này - Chủ quán đáp.
- Quỷ quái! Thật đáng tức giận.
- Ông chờ một người đàn bà ư? Ông bạn quả cảm của tôi – Viên đại uý bí mật nói vừa đưa lưỡi kiếm lên môi giữ lấy đầu ria mép nhấm nhấm.
- Không hề là một người đàn bà cho tôi, thưa đại uý – Chàng trai nghiêm nghị trả lời- đó là con gái của chủ nhân cao quý của chúng tôi, ngài thống chế Xanh Ăngđrê/
- Ủa! Lạy Chúa vĩ đại! - Vậy là ông phụng sự ngài thống chế danh tiếng Xanh Ăngđrê ư?
- Tôi có được vinh dự đó, thưa ông
- Ông tin rằng ngài thống chế sẽ đến cái quán tồi tàn này chăng? Ông tưởng ra chuyện này hả? Thưa ông thị đồng trẻ tuổi…Đúng thế à! – Viên đại uý nói
- Cần phải như vây, từ mười lăm ngày nay, ngài thống chế bị mệt tại lâu đài Vile-Côtơrết và vì ngài không thể trở về Pari bằng ngựa để dự cuộc kỵ đấu vào ngày hai mươi chín nhân dịp hôn lễ của hoàng đế Philip đệ nhị với quận chúa Êlidabet và của quận chúa Macơrit với quận công Êmanuyen Philibe-đờ-Savoa, ông Đờ Ghidơ mà lâu đài ở gần lâu đài Vile-Côtơrê.
- Ông Đờ Ghidơ có một toà lâu đài ở gần Vile-Côtơrê à?- Viên đại uý ngắt lời, ý tỏ ra mình cũng biết chuyện triều chính- Vậy mà lâu đài ấy ở đâu? Thưa ông trẻ tuổi.
- Ở Năngtơi-lơ-Hôđuin, thưa đại úy, đó là sự chiếm đoạt mới đây của ông ấy để lâu đài này nằm trên đường nhà vua khi đi Vile-Côtơrê và khi trở về phải qua đấy.
- A! A! Tôi thấy việc này chơi thật đẹp đấy.
- Ồ! – Chàng thị đồng trẻ cười và nói- Người ấy chơi không thiếu sự khéo léo.
- Kể cả không thiếu cách chơi chứ gì – Viên đại uý nói.
- Vậy tôi xin nói rằng – Chàng thị đồng nói tiếp – ông Đờ Ghidơ đã đưa cỗ xe ngựa của ông ấy cho ngài thống chế và ông đã cho nó đi chầm chậm nhưng dù cỗ xe có êm ái đến đâu và người điều khiển ngựa đến Guetxơ có nhẹ nhàng đến mấy thì ngài thống chế vẫn cảm thấy mệt mỏi nên tiểu thư Xaclôt-đờ- Xanh Ăngđrê đã cử tôi đi trước tìm một quán trọ để thân phụ nàng nghỉ ngơi một chút.
Nghe những lời nói trên thốt ra từ bàn bên cạnh, chàng quý tộc đầu tiên đã đỏ mặt giận dữ khi chủ quán nói xấu về các tín đồ Canvanh liền lắng tai nghe và thấy câu chuyên trao đổi ấy có thể rút ra điều hay ho thú vị trực tiếp hơn cả.
- Trước mình Thánh! - Người Gatscông nói – Tôi xin thề với ông, chàng trai ạ, nếu tôi biết quanh đây hai dặm có một căn phòng xứng đáng nhận hai vị thủ lĩnh ấy thì tôi sẽ không nhường cho bất kì ai, dù là cha tôi- có được vinh dự dẫn được hai vị đó vào đấy nhưng khốn thay –gã nói thêm – tôi không biết có căn phòng nào cả.
Chàng quý tộc theo giáo phái Canvanh phác một cử chỉ tỏ vẻ khinh miệt. Cử chỉ ấy thu hút sự chú ý của viên đại uý đối với chàng.
- A! A! – gã thốt lên.
Gã đứng lên và cúi chào người tín đồ Canvanh với lễ độ kiểu cách rồi quay lại phía chàng thị đồng. Chàng tín đồ Canvanh đứng lên và như người Gatscông, lễ phép chàng đáp lại nhưng vẻ lạnh lung rồi quay đầu về phía tường. Viên đại uý rót rượu cho chàng thị đồng, người này nâng cao cốc trước khi rượu đầy một phần ba cốc, rồi viên đại uý nói tiếp:
- Theo ông nói, chàng trai trẻ ạ, ông phục vụ ngài thống chế Xanh Ăngđrê danh tiếng, người anh hùng ở Xêridôn và Răngty…Tôi đã dự cuộc hành quân tấn công Bulônhơ, chàng trai ạ, và tôi đã thấy những nỗ lực của ngài tìm cách xông vào vị trí ấy. A! Tôi tin chắc đấy là một con người không để mất danh hiệu thống chế của mình.
Đột nhiên, gã ngừng lời tỏ vẻ suy nghĩ rồi gã nói:
- Trời ơi! Nhưng tôi nghĩ tới điều này, tôi từ Gatscônhơ tới, tôi đã từ bỏ lâu đài của cha mẹ tôi để nhằm phục vụ một vị hoàng thân nổi tiếng hoặc một thủ lĩnh trứ danh nào đó. Chàng trai trẻ ạ, liệu trong nhà thống chế Xanh Ăngđrê có còn một chỗ nào để dung nạp một sĩ quan gan dạ như tôi không? Tôi sẽ không khó tính về lương bổng miễn là người ta không cho tôi những mụ già để giải trí, những đôi ủng mới dễ gãy thì tôi sẽ cố hết sức mình để làm tròn nhiệm vụ mà người ta giao phó cho tôi nhằm làm hài lòng vị chủ nhân của tôi.
- Chà! Thưa đại uý – Chàng thị đồng trẻ nói – ông thấy rõ là tôi hoàn toàn lấy làm tiếc, thực sự là như vậy, khốn thay, nhà ngài thống chế đã đủ người rồi, tuy thế tôi không chắc là ngài có thể chấp nhận sự cống hiến dễ thương của ông dù có muốn.
- Chán thật! Mặc ông ấy vì tôi có thể kiêu hãnh là một con người quý giá cho những ai dung nạp tôi. Giờ đây hãy coi như tôi đã không nói gì hết và chúng ta hãy uống đi.
Chàng thị đồng đã nâng cốc của mình tỏ sự đồng tình với viên đại uý bỗng bật dậy lắng tai nghe rồi đặt cốc lên bàn.
- Xin lỗi đai uý – chàng nói – tôi nghe có tiếng xe ngựa, mà xe ngựa thì hiện rất hiếm nên tôi tin rằng, không phải đoán mò mà là có thể khẳng định đó là cỗ xe của quận công Đờ Ghidơ, vậy xin ông cho phép tôi vắng mặt một lát.
- Xin cứ tự nhiên, ông bạn trẻ của tôi, xin cứ việc –viên đại uý nói với vể khoa trương- bổn phận trên hết.
Chàng thị đồng nói xin lỗi chẳng qua hoàn toàn vì phép lịch sự bởi vì ngay trước khi viên đại uý trả lời, chàng đã vội vàng chạy khỏi quán và biến mất ở góc đường.
Chương 4

NHỮNG LỮ KHÁCH
Viên đại uý lợi dụng sự vắng mặt của chàng thị đồng để suy nghĩ và vừa suy nghĩ vừa uống bình rượu vang đặt trước mặt. Uống hết bình thứ nhất, gã gọi bình thứ hai. Rồi như thể thiếu dong suy nghĩ hoặc do cách vận dụng tinh thần của gã không đầy đủ, thiếu sự khổ công, do thiếu thói quen làm việc này, viên đại uý liền quay sang chào người tín đồ giáo phái Canvanh với một vẻ lễ độ đáng mến và nói:
- Tôi tin chắc rằng, thưa ông, hình như tôi được chào một người đồng hương.
- Ông lầm rồi, thưa đại uý –Chàng trả lời người hỏi mình- Vì nếu tôi không nhầm thì ông là dân Gatscônhơ, còn tôi là dân Ănggumoa.
- A! Ông là người Ănggumoa à! – Viên thiếu uý reo lên ngạc nhiên và thán phục- Ở Ănggumoa! Thế đấy! Thế đấy! Thế đấy!
- Vâng, thưa đại uý, điều này làm ông hài lòng ư? Chàng tín đồ Canvanh hỏi.
- Tôi tin chắc như vậy! Tôi mong ông cho phép tôi có lời chúc mừng, ngợi ca: một xứ sở tuyệt đẹp, phong phú được chia cắt bởi những dòng sông kỳ thú; đàn ông ở đấy sáng chói lòng dũng cảm chứng minh là cố hoàng đế Frăngxoa đệ nhất; đàn bà ở đấy chói rực về tinh thần; cuối cùng tôi xin nói thật với ông rằng, thưa ông, nếu tôi không phải là dân Gatscônhơ thì tôi muốn được là người Ănggumoa.
Chàng quý tộc Ănggumoa nói:
- Thật quá vinh dự cho cái tỉnh khốn khổ của tôi, thưa ông và tôi không biết cảm ơn ông thế nào cho phải.
- Ồ! Không có gì dễ dàng hơn, thưa ông, dể chứng tỏ cho tôi chút ít sự chấp thuận mà ông muốn dành cho sự chân thành thô lỗ của tôi,xin ông vui lòng chàm cốc với tôi vì niềm vinh quang và sự thịnh vương của các đồng bào của ông.
- Rất vui lòng, thưa đại uý –chàng tín đồ Canvanh nói, vừa chuyển bình và cốc của chàng đặt lên góc bàn mà người Gatscônhơ ngồi đối diện và lí do vắng mặt của chàng thị đồng chỉ để lại vừa đủ một chỗ.
Sau khi nâng cốc chúc cho sự vẻ vang của những người con của Ănggumoa. Chàng quý tộc thuộc giáo phái Canvanh không thể tỏ ra thiếu lịch sự cũng nâng cốc chúc sự thịnh vượng và sự vẻ vang của những đứa con của Gatscônhơ. Rồi coi như đã đáp lễ xong người đã chúc mình, chàng quý tộc Ănggumoa cầm lại bình rượu và cốc của chàng chuẩn bị trở lại bàn mình.
- Ồ! Thưa ông - người Gatscônhơ nói - sự quen biết nhau ngưng quá sớm thế này sao, xin ông hãy vui lòng cho tôi được cạn bình rượu vang của ông tại bàn này.
- Tôi e làm ông khó chịu, thưa ông – Chàng tín đồ Canvanh nói lịch sự nhưng thờ ơ.
- Làm tôi khó chịu ư? Không bao giờ. Vả lại theo tôi thì sự làm quen tuyệt vời và hoàn hảo là tại bàn rượu. Thật hiếm khi không đủ ba cốc trong một bình rượu vang,có phải không ạ?
- Đúng thế, thưa ông, quả là hiếm – Chàng tín đồ Canvanh trả lời trong lúc cố đoán xem kẻ đối thoại với mình muốn đạt tới điều gì.
- Nào, chúng ta hãy chúc sức khoẻ mỗi người bằng một cốc rượu vang nhé. Ông đồng ý với tôi là chúc mỗi lần bằng một cốc chứ?
- Tôi đồng ý với ông, thưa ông.
- Khi ta đã cùng lúc đồng tình và tự đáy lòng mình chúc sức khoẻ cho ba người thì đấy là ta cho trí tuệ, chính kiến và các nguyên tắc tương tự chứ?
- Có sự đúng đắn trong những điều ông vừa nói thưa ông.
- Đúng đắn! Đúng đắn! Ông nói là có sự đúng đắn chứ, ôi máu Chúa! Đó là sự thật trong sáng đấy.
Rồi gã mỉm cười duyên dáng nhất:
- Để mở đầu sự quen biết nhau, thưa ông, và để làm sáng tỏ sự tương đồng chính kiến của chúng ta, ông hãy cho phép tôi được đề nghị với ông chúc sức khoẻ vị đại thần Môngmôrăngxi.
Chàng quý tộc do tin cậy đã nâng cốc lên, mặt mày rạng rỡ nhưng sầm ngay mặt, đặt cốc lên bàn.
- Xin ông thứ lỗi cho tôi, thưa ông – Chàng nói – nhưng với con người này thì tôi không thể làm ông vừa lòng được. Ông Môngmôrăngxi là kẻ thù của cá nhân tôi.
- Kẻ thù của riêng ông à?
- Làm sao một con người ở địa vị của ông ta lại có thể trở thành một con người ở vào vị trí của tôi được, cũng vì vậy, kẻ lớn có thể là kẻ thù của kẻ bé.
- Kẻ thù của cá nhân ông ư? Trong trường hợp này, vào giờ này, ông ta cũng trở thành kẻ thù của tôi. Vả lại tôi thú thật với ông rằng tôi không hề quen biết ông ta chút nào, vì đối với ông ta, tôi không có mối thiện cảm sâu sắc. Tai tiếng xấu xa, bủn xỉn, cau có, dâm ô, vùng vẫy như một kẻ ngốc, hãy coi là một kẻ dại khờ. Ma đưa quỷ dắt thế nào mà tôi lại có ý định mời ông một lời chúc như vậy nhỉ? Vậy cho phép tôi được chuộc lại bằng một đề nghĩ khác với ông. Về thống chế Xanh Ăngđrê nhé!
- Chắc chắn lời đề nghị của ông đưa ra không đúng lúc rồi, ông đại uý ạ- chàng quý tộc tín đồ Canvanh trả lời về vấn đề thống chế Xanh Ăngđrê cũng vẫn nội dung đã nói đầy đủ về viên đại thần – Tôi không nâng cốc chúc sức khoẻ một người mà tôi không ưa thích, một con người sẵn sàng làm tất cả vì danh vọng hoặc tiền bạc, một con người sẽ bán cả vợ và con gái lão như đã bán lương tâm lão nếu người ta trả cho lão về việc này cũng bằng cái giá ấy.
- Ôi! Trời ơi! Ông nói gì với tôi thế? - người Gatscông kêu lên - Thế nào! Sao tôi lại muốn nâng cốc chúc sức khoẻ một người như vậy nhỉ?... Quái quỷ ở đâu mà mi lại có ý nghĩ như vậy hỡi tên đại uý này? - Người Gatscông nói tiếp, tự xỉ vả mình –A! Ông bạn, nếu bạn muốn giữ danh tiếng của những con người trung thực thì ta không nên chúc rượu như thế này nữa.
Rồi đổi giọng, gã nói với chàng tín đồ Canvanh:
- Thưa ông, kể từ lúc này tôi nhìn nhận thống chế Xanh Ăngđrê cũng cùng một sự khinh miệt như bản thân ông đối với ông ấy. Và không để ông có ý nghĩ sai lầm mà tôi đã mắc phải, tôi xin đề nghị với ông lần chúc sức khoẻ thứ ba với người mà tôi mong rằng ông không có chuyện gì để phản đối cả.
- Về ai? Thưa đại uý.
- Nâng cốc chúc sức khoẻ Frăngxoa-đờ-Lore danh tiếng, quận công Đờ Ghidơ! Người bảo vệ thành Medơ, người chiến thắng ở Cale! Người phục thù ở Xanh Căngtanh và Gravơlin! Người sửa chữa những sự ngộ nhận về viên đại thần Môngmôrăngxi và về thống chế Xanh Ăngđrê chứ? Ái chà!
Chàng trai tái mặt nói:
- Đại uý ạ, ông chơi xấu tôi đấy vì tôi đã có lời nguyền.
- Lời nguyền nào,thưa ông? Và xin ông hãy tin rằng nếu tôi có thể góp sức vào việc thực hiện lời nguyền ấy…
- Tôi đã thề rằng: con người mà ông đề nghị tôi nâng cốc chúc sức khoẻ sẽ chết bằng chính tay tôi.
- Thật tội nghiệp! Người Gatscông kêu lên – Ông làm gì vậy? Thưa ông.
Chàng tín đồ Canvanh nói:
- Thưa ông, cuộc thử nghiệm đã xong, ba sức khoẻ đã được chúc và chúng ta tỏ ra không cùng ý kiến về những con người ấy; sẽ đáng ngại nếu chúng ta muốn đạt được việc này theo các nguyên tắc thì sẽ càng tồi tệ hơn đấy.
- Ủa! Lạy Chúa vĩ đại! Thật không minh bạch thưa ông, với những người muốn làm để cùng chúng ý tưởng với nhau lại đã bị lầm lạc về những con người mà họ không hề quen biết, bởi vì chính tôi không hề quen biết quận công Đờ Ghidơ, cả thống chế Xanh Ăngđrê, cả lão đại thần Môngmôrăngxi; xin hãy côi tôi bất cẩn vì đã định nâng cốc chúc ba con quỷ: Satăng, Luyxife và Atstarôt; ông đã làm cho tôi nhận ra rằng đến lần chúc thứ ba, tôi đã mất trí: tôi xin nhanh chóng rút lui. Vậy là tôi nay đã ở điểm xuất phát và cốc rượu của chúng ta hãy còn đầy thì nào, nếu ông vui lòng thì chúng ta hãy nâng cốc chúng mừng sức khoẻ của mình chúng ta thôi: Cầu Chúa hãy phù hộ cho ông sống lâu và vinh quang thưa ông! Đây là lời tôi cầu xin Người tự đáy lòng mình.
- lời nói thật quá lịch thiệp, lẽ nào tôi lại có thể khước từ ông được, thưa đại uý.
Lần này, người Ănggumoa uống cạn cốc của mình theo gương viên đại uý cũng đã cạn chén của gã.
- Vậy là việc đã hoàn tất - Người Gatscông chéo miệng nói – và chúng ta đã đồng lòng một cách tuyệt vời, vậy thì kể từ hôm nay, thưa ông, ông có thể trông cậy ở tôi như một người bạn trung thành nhất.
- Tôi cũng sẵn sàng tuân theo ý ông, thưa đại uý - Người theo phái Canvanh trả lời một cách lịch thiệp thông thường.
- Còn về phần tôi - Người Gatscông nói tiếp – tôi xin nói thêm là tôi chờ dịp để phục vụ ông.
- Tôi cũng vậy - Người Ăng-gumoa trả lời.
- Rất chân tình chứ, thưa ông quý tộc.
- Rất chân tình, thưa đại uý.
- Thế thì cơ hội mà ông tìm kiếm ban ân cho tôi, tôi tin rằng ông đã tìm ra rồi.
- Lẽ nào tôi lại có được diễm phúc ấy.
- Xin thề trước Chúa! Có đấy, hoặc tôi quá lầm hoặc ông đã có nó trong tay rồi.
- Vậy ông hãy nói đi.
- Sự việc là thế này: tôi từ Gatscông tới, tôi đã từ bỏ lâu đài của cha mẹ tôi là nơi tôi được vỗ béo trông thấy một cách đáng thương. Ông thợ cạo của tôi khuyên tôi nên làm việc và tôi đến Pari với ý định làm một việc hữu ích. Tất nhiên tôi đã chọn cuộc đời binh nghiệp. Liệu ông có biết ở Ăng-gumoa có vị trí nào tốt đẹp mà một chàng trai Gatscông có thể đảm đương miễn là người ta không đem cho hắn những mụ gái già để giải khuây và những đôi ủng mới dễ gãy không? Tôi dám tự hào trong trường hợp này tôi sẽ làm tròn xuất sắc mọi nhiệm vụ mà người ta giao cho tôi.
- Tôi mong muốn như thế - Người Ăng-gumoa trả lời- nhưng cũng rủi thay, tôi đã rời bỏ xứ sở tôi khi tôi còn quá non trẻ, và không quen biết được một ai ở đấy cả.
- Ý Thánh Cha cả thôi! Thưa ông, ông thấy tôi đây là kẻ hoàn toàn khốn khổ, nhưng tôi nghĩ rằng, thưa ông quý tộc, có lẽ ông quen biết một ai đó ở tỉnh khác, tôi không yêu cầu phải là Ăng-gumoa là nơi mà người ta quả quyết đó là một xứ cuồng nhiệt; hoặc giả có một lãnh chúa đức độ dòng dõi cao quý để ông có thể tiến cử tôi với ngài đó được chăng? Cũng chẳng cần ông ấy hoàn toàn đức độ vì tôi sẽ làm vừa lòng ông ấy miền là Chúa ban phát cho ông ấy lòng dũng cảm vù việc Người khước từ ông ấy về đức hạnh.
- Tôi rất tiếc, thưa đại uý, Tôi không thể giúp được chút gì cho một con người dễ dãi như ông; còn tôi là một người quý tộc cũng khốn khổ như ông mà thôi, tôi còn có một người em mà tôi đã không biết làm thế nào cho nó sống được bằng tiền lương dư bổng của tôi hoặc tiền dư ngân khoản của tôi.
- Thật mắc dịch! Người Gatscông kêu lên, rõ ràng là gã rất tức giận – Nhưng đúng theo dự định, thưa ông quý tộc tộc của tôi – Viên đại uý đứng lên nói tiếp, vừa thắt lại đoản kiếm của gã – Xin thề danh dự, tôi vẫn biết ơn ông.
Rồi gã chào người tín đồ Canvanh. Chàng chào đáp lại rồi lấy bình rượu và cốc của mình trở lại chỗ ngồi ban đầu của chàng.
Vả lại, cỗ xe ngựa tới tác động tới mỗi nhân vật một thái độ khác nhau trong khung cảnh này.
Chúng ta thấy chàng quý tộc Ăng-gumoa trở lại chỗ ngồi ban đầu cho phép chàng quay lưng ra cửa.
Viên đại uý Gatscông đứng thật thích hợp với vị trí con thứ của gia đình trước những nhân vật cao quý đã được chàng thị đồng báo trước; cuối cùng chủ quán và vợ gã vội nhào ra cửa để sẵn sàng phục vụ theo đòi hỏi của những người khách đã đem tới cho họ vận may.
Chàng thị đồng tránh để quần áo vấy bùn do tiếp xúc với con đường lầy lội, đứng ở bậc thứ ba của cỗ xe ngựa, nhảy xuống đất và mở cửa xe.Một người có bộ mặt quyền thế mang vết sẹo rộng ở má bước xuống đầu tiên.
Đó là Frăngxoa đờ Loren tức quận công Đờ Ghidơ được mệnh danh là Balafrê kể từ khi ông nhận được vết thương khủng khiếp ở Cale. Ông đeo một dải băng trắng có tua viền thêu hoa huệ vàng là huy hiệu cấp bậc thiếu tướng trong quân đội hoàng gia.
Tóc ông cắt ngắn và trải chuốt, đầu đội mũ nhung đen có cài lông vũ trắng là mốt của thời này, mình mặc áo chẽn màu ngọc xám và bạc là những màu được ưa chuộng, đoạn vải kết trên vai áo và áo choàng mau nhung đỏ tía, chân đi ủng cao có thể kéo lên đùi cao hoặc bẻ gập xuống dưới đầu gối.
Ông nói khi đặt chân vào giữa những vũng nước loang loáng trước cửa quán:
- Thựa sự là một cơn hồng thuỷ.
Rồi ông trở lại cỗ xe nghiêng người vào trong; nói tiếp:
- Này Xaclôttơ thân mến, tiểu thư không thể đặt đôi bàn chân xinh đẹp của mình vào đám bùn ghê tởm này đâu.
- Thưa ngài thống chế thân mến - Quận công nói tiếp – ngài vui lòng cho phép tôi bé con gái ngài trong vòng tay của tôi chứ? Điều này làm tôi trẻ lại được mười bốn tuổi đấy, bởi vì cách đây cũng mười bốn năm, cô gái xinh đẹp của tôi ạ, tôi đã bế cô từ nôi ra như thế này đây. Nào, con bồ câu xinh xắn – Ông nói tiếp – hãy ra khỏi ổ của cô nào.
Bế thiếu nữ trong vòng tay, chỉ ba bước chân ông đã đặt cô gái trong phòng.
Danh hiệu bồ câu mà ngài quận công tao nhã Đờ Ghidơ tặng cô gái nhỏ mà ông muốn trở thành con dâu ông không chút nào lạm ngôn: thật vậy, ta không thể thấy mọt con chim nào trắng hơn, ẻo lả và xinh xắn hơn thiếu nữ mà ngài quận công bế trên tay và đặt trên nền nhà ẩm ướt của quán trọ.
Người thứ ba bước xuống, nói đúng hơn là đang tìm cách bước xuống khỏi cỗ xe ngựa là thống chế Xanh Ăngđrê. Ông gọi chàng thị đồng của ông nhưng dù anh chàng chỉ đứng cách ông vừa đúng ba bước chân vẫn không nghe thấy tiếng ông gọi.
- Giắc! Giắc! – Ngài thống chế nhắc lại – Chà chà! Người lại đây cơ mà, cái thằng nhỏ kì cục này!
- Có tôi đây! – Chàng thị đồng trẻ vội vàng quay ngoắt lại – Tôi đây, thưa ngài thống chế.
- Bực thật! – Ông nói – Ta đã thấy rõ ngươi ở đấy rồi, nhưng không phải chỗ ngươi đứng đấy, đồ thô bỉ! Ở đây cơ, duới bậc xe này chứ, thằng nhỏ kì cục! Ái chà, Chậc, sấm với sét!
Chàng thị đồng bàng hoàng nói, vừa giơ vai cho chủ:
- Xin ngài thống chế tha lỗi.
- Hãy vịn vào tôi thưa ngài thống chế- Quận công nói đồng thời chìa cánh tay cho kẻ bị phong thấp.
Ngài thống chế được hưởng phép này và được hai người đến dìu đỡ, đến lượt ngài bước vào quán.
Vào thời điểm này, đây là một người đàn ông trạc năm mươi mốt tuổi, má hồng hào hơi tái đi trong lúc ông bực bội, bộ râu hung nâu, tóc hoe vàng, mắt xanh, thoạt nhìn nếu chúng ta hình dung đến nơi nào gặp ông trước đây mươi, mười hai năm thì thống chế Xanh Ăngđrê hẳn là một kỵ sĩ đẹp trai vào bậc nhất thời đó.
Ông có vẻ hơi mệt mỏi đến ngồi vào chiếc ghế bành nhồi rơm hầu như đợi sẵn ông ở góc lò sưởi, tức là góc đối diện với góc mà viên đại uý Gatscông và chàng quý tộc Ăng-gumoa đang ngồi. Ông quận công chỉ cho tiểu thư Xaclôttơ Đờ Xanh Ăngđrê chiếc ghế tựa nhồi rơm mà chúng ta đã thấy chủ quán ngồi chạng háng ở phần đầu chương trước,còn ông hài lòng với chiếc ghế đẩu; ông ra hiệu cho chủ quán đốt to lò sưởi vì dẫu đang giữ mùa hè thì lửa vẫn cần thiết để chống lại sự ẩm ướt.
Lúc này, mưa lại mạnh lên và đổ xuống thật dữ dội làm nước bắt đầu tràn vào quán qua chiếc cửa mở như tràn qua một đoạn đê vỡ hoặc qua một cửa đập mà người ta quên không đóng lại.
- Này chủ quán – Ngài thống chế quát – Hãy đóng cửa lại! Ông muốn chúng ta chết chìm ngay hả?
Chủ quán trao bó củi gã đang ôm cho vợ gã chăm lo việc đốt lửa liên tục còn gã chạy đến cửa để thi hành lệnh của ngài thống chế. Đúng lúc gã dùng hết sức để khép cánh cửa xoay trên bản lề thì nghe thấy tiếng vó ngựa phi nhanh trên đường.
Con người đáng trọng này vì thế dừng lại, sợ rằng lữ khách thấy cửa quán đóng sẽ không biết là quán đã đầy người hay còn vắng vẻ và giả thiết nào thì khách cũng bỏ đi nơi khác mất. Gã ghé đầu qua cửa mở hé nói:
- Xin thứ lỗi, thưa tôn ông, tôi tin răng ngài là một vị khách đến nhà tôi.
Thật vậy, một kị sỹ dừng lại trước quán, nhảy khỏi lưng ngựa xuống đất và ném dây cương cho chủ quán và nói:
- Ông hãy dắt con ngựa này vào chuồng và đừng hà tiện với nó về cám và lúc mạch đấy nhé.
Bức nhanh vào trong quán lúc này chưa có ánh sáng lửa, ông lắc mạnh chiếc mũ đẫm nước mưa, không chú ý tới việc ông đã vung nước vào tất cả mọi người trong phòng. Nạn nhân đầu tiên của trận mưa rào này là quận công Đờ Ghidơ khiến ông này vụt đứng dậy, nhảy một bước đến bên khách lạ, kêu lên:
- Chà, cái ông kì quặc này, ông không thể chú ý tới việc ông làm hử?
Nghe thấy tiếng rầy la ấy, người mới đến quay lại và trong lúc xoay mình đã nhanh như cắt cầm kiếm trong tay.
Chắc chắn ông Đờ Ghidơ đã phải trả giá đắt về cái từ mà ông đã dùng chào người khách lạ, mặc dầu trước lưỡi kiếm, ông không lùi bước trước người này.
- Thế nào, hoàng thân, chính là ông đấy à? – Ông nói.
Người mà quận công Đờ Ghidơ vừa chào với tước vị hoàng thân chỉ cần liếc mắt nhìn người chỉ huy nổi tiếng vùng Loren đến lượt mình nhân ra người ấy.
- Vâng, đúng là tôi thưa ông quận công – Ông trả lời và tỏ vẻ ngạc nhiên thấy ông này ở trong cái quán tối tăm và ông này thì cũng ngạc nhiên thấy ông vào đây.
Rồi ông nghiêng mình.
- Tôi thành thật xin lỗi Điện hạ.
- Không hề gì,quận công ạ - Người đến sau vui vẻ nói dễ dãi và cao thượng theo thói quen – Sao ngẫu nhiên ông lại ở đây, tôi ngỡ là ông đang ở mảnh đất Năngtơi của ông cơ đấy?
- Đúng là tôi đến đấy, thưa hoàng thân.
- Qua đường Xanh Đơnit phải không?
- Chúng tôi rẽ vào Giơnetxơ để tiện thể xem lễ hội Lăngđi.
- Ông ư? Thưa quận công. Với tôi mà sự phù phiếm đã trở thành nổi tiếng, tôi cũng qua đó nhờ các bạn tôi. Nhưng ngài quận công nghiêm khắc và khắt khe Đờ Ghidơ sao lại chuyển hướng đường đi của mình để xem một lễ hội của học sinh…
- Tôi không hề có chút ý nghĩ nào như thế, thưa hoàng thân. Tôi quay lại với ngài thống chế Xanh Ăngđrê và con gái ông là con đỡ đầu của tôi, Xaclôttơ là một cô bé đỏng đảnh muốn xem lễ hội Lăngđi ra sao nhưng bất chợt gặp mưa nên chúng tôi vào đây.
- Vậy là ngài thống chế cũng ở đây ư?
- Ngài đây, quận công vừa nói vừa chỉ vào một người trong hai người mà hoàng thân nhìn thấy lờ mờ hình dáng trong nhóm nhưng không phân biệt nổi nét mặt.
Thống chế tỳ tay vào ghế bành cố đứng lên.
- Thưa ngài thống chế - Hoàng thân lại gần ông nói – xin ngài thưa lỗi cho tôi đã không nhận ra ngài, nhưng ngoài cái phòng này tối như căn hầm, nói đúng hơn là căn hầm này tối hơn nhà ngục, tôi thực sự bị mờ mắt vì mưa làm cho tôi cũng như ông quận công đây lầm lẫn một nhà quý tộc với một người tiện dân. May thay, thưa tiểu thư – Hoàng thân quay sang thiếu nữ nhìn ngưỡng mộ, nói tiếp – may mắn thay, tôi đã dần dần nhìn rõ và tôi thất sự rầu lòng tiếc cho những kẻ mù vì họ không thể chiêm ngưỡng một bộ mặt kiều diễm như dung nhan tiểu thư.
Lời ca tụng đột ngột này làm thiếu nữ đỏ mặt. Nàng ngước mắt nhìn người vừa nói với nàng những lời tán dương đầu tiên mà nàng có thể tiếp nhận nhưng nàng lập tức cụp mắt xuống, loá mắt bởi ánh mắt sáng rực của hoàng thân nhìn nàng.
Chúng ta không rõ cảm nghĩ của nàng ra sao nhưng chắc chắn tràn đầy dịu dàng và duyên dáng bởi vì rất khó cho một thiếu nữ mười bốn tuổi ngưng nhìn vào bộ mặt nào rạng rỡ hơn bộ mặt người kị sĩ hai mươi chín tuổi này mà người ta gọi là hoàng thân và chào với tước vị Điện hạ.
Thật thế, đây là một kỵ sĩ hoàn hảo như Lui Buôcbông đệ nhất, hoàng thân Côngđê.
Sinh ngày 7-5-1530, như chúng tôi đã nói về ông, ông vừa tròn ba mươi tuổi vào thời điểm bắt đầu câu chuyện này.
Ông đúng là nhỏ người hơn và cao lớn nhưng hoàng thân cân đối ưa nhìn. Tóc ông màu hạt dẻ, cắt ngắn, phủ bóng hai thái dương láng bóng mà một nhà não tướng học ở thời đại chúng ta tìm thấy ở đấy những u thông minh và siêu phàm. Mắt ông xanh màu ngọc lưu ly mang vẻ dịu dàng và âu yếm khôn tả nếu đôi lông mày rậm làm bộ mặt hơi rắn rỏi và bộ râu hung cũng dịu hơn thì ta đã coi hoàng thân là một học sinh đẹp trai, mới ra khỏi thánh hội mẫu giáo; tuy nhiên đôi khi đôi mắt dễ thương trong veo như nhìn bầu trời xanh ấy đã in dấu một vẻ cương nghị dữ dội thì qua ý tưởng của thời đại ấy ta có thể so sánh con mắt ấy như một dòng sông hiền hoà khi ánh mặt trời chiếu sáng và đáng lo ngại khi bão tố làm xáo động. Tóm lại là trên bộ mặt ông mang tính cách vượt trội có nghĩa là lòng dũng cảm và khao khát yêu đương được đẩy lên ở mức độ cao.
Trong lúc ấy, do cửa đóng và lửa cháy trong lò sưởi, gian phòng của quán sáng lên những ánh ma quái, soi tỏ hai nhóm người, một ở góc phải, một ở góc trái một cách khác nhau và thường biến đổi, hơn nữa, những tia sáng lọt qua những khe hở bên trên thỉnh thoảng lại lướt qua các bộ mặt những ánh xanh làm cho những người trẻ nhất và có sinh khí nhất mang những sắc thái của những sinh vật ở một thế giới khác.
Cảm nghĩ ấy đến mức lan cả sang chủ quán, gã cho rằng đêm đến từ lâu mặc dầu mới bảy giờ tối, gã bèn thắp một ngọn đèn đặt lên nóc lò sưởi, bên trên nhóm hoàng thân Côngđê, quận công Đờ Ghidơ, thống chế Xanh Ăngđrê và cô con gái ông.
Mưa không ngớt lại còn mạnh hơn vì thế không ai nghĩ tới rời quán; kèm theo mưa còn là cơn gió khủng khiếp từ sông thổi vào làm cho các cánh cửa chớp va đập vào tường và ngay cả quán cũng rung bần bật từ mái đến chân.
Muốn cho xe ngựa đi trên đường thì nó cũng không cưỡng nổi mà sẽ bị giông bão cướp đi cả thùng xe lẫn ngựa. Vậy là các vị khách đi đường quyết định nghỉ lại quán chừng nào giông tố còn kéo dài.
Đột nhiên, giữa tiếng náo động của các yếu tố; cơn mưa xối xả trên đầu, các viên ngói bị bóc khỏi mái và rơi xuống đất vỡ ra, người ta nghe thấy có tiếng gõ cửa và một giọng rền rĩ mà âm sắc mỗi lần nhắc lại yếu dần đi.
- Xin hãy mở cửa! Nhân danh Chúa, làm ơn mở cửa!
Nghe tiếng đập cửa, chủ quán ngỡ có thêm một vị khách mới liền lao ra mở cửa nhưng nhận ra giọng nói, gã liền dừng lại ngay giữa phòng và lắc đầu:
- Mụ nhầm cửa rồi, mụ phù thủy già ạ. Đây không phải là nơi cần gõ cửa nếu mụ muốn người ta mở cửa cho mụ.
- Làm ơn mở cửa, ông chủ quán ơi - Vẫn tiếng than vãn ấy nhắc lại - thật có tội để một người già khốn khổ đứng ở ngoài trời thế này.
- Hãy quay cán chổi của mụ đi hướng khác, hỡi vợ chưa cưới quỷ! - Chủ quán trả lời vọng qua cửa sổ - Ở đây đã có cả một đại hội quá nổi tiếng đối với mụ rồi.
Hoàng thân Đờ Côngđê tức giận trước thái độ tàn nhẫn của chủ quán liền hỏi:
- Tại sao ngươi không mở cửa cho người đàn bà khốn khổ kia?
- Vì đây là một mụ phù thủy thưa Điện hạ, mụ phù thuỷ Ăngđili, một mụ già khốn kiếp mà ta cần thiêu sống ở giữa cánh bãi Xanh Đơnit để răn đe vì mụ chỉ mơ tới những vết thương và những khối u bướu, chỉ tiên đoán rặt mưa, mưa đá và sấm sét. Tôi tin chắc là mụ đã trả thù vài nông dân nào đó và chính mụ là nguyên nhân của cái thời tiết chó má này.
- Phù thuỷ hay không – Hoàng thân nói – này, hãy mở cửa cho người ấy. Không được phép để một con người ngoài cửa trong cơn giông tố như thế này.
- Vì Điện hạ muốn như vậy - Chủ quán nói – tôi sẽ đi mở cửa cho mụ già tà đạo này nhưng tôi mong rằng Điện hạ sẽ không ân hận về việc này vì mụ qua đâu là bất hạnh tới đó.
Chủ quán dù kinh tởm vẫn buộc phải tuân theo lời hoàng thân ra mở cửa và ta thấy lọt vào,nói đúng hơn là ngã vào một mụ già tóc xám lưa thưa và rối bù, mặc chiếc áo dài len đỏ hoàn toàn xác xơ và một tấm áo choàng lớn cùng tình trạng như chiếc áo dài, trùng xuống tận gót.
Hoàng thân Côngđê tiến lên, dáng vẻ một ông hoàng, nâng mụ phù thuỷ dậy vì ông có một tấm lòng tốt nhất trên đời. Nhưng chủ quán xen vào, ấn mụ phù thuỷ gập người vào đùi mụ.
- Hãy cảm ơn ngài hoàng thân Đờ Côngđê đi, mụ phù thuỷ, bởi vì không có ngài thì… vì điều tốt lành của thành phố và các vùng lân cận, mụ hãy tin chắc rằng ta sẽ để mụ vỡ sọ ngoài cửa.
Hoàng thân nhìn kẻ khốn khổ, lòng đầy trắc ẩn, ông nói:
- Chủ quán, một bình rượu vang mà là loại ngon nhất của ông cho người đàn bà khốn khó này. Hãy uống một chút, bà lão, cái đó làm bà ấm người lên đấy.
Mụ già đến ngồi trước một bàn kê ở cuối phòng, như vậy mụ ngồi đối diên với cửa ra vào, bên phải là nhóm các hoàng thân, thống chế Xanh Ăngđrê và con gái ông, bên trái là viên đại uý Gatscông, chàng quý tộc Ăng-gumoa và chàng thị đồng trẻ tuổi.
Chàng quý tộc Ăng-gumoa lại chìm đắm trong cơn mơ màng. Chàng thị đồng trẻ thì bị choáng ngợp trong việc chiêm ngưỡng những nét duyên dáng của tiểu thư Xanh Ăngđrê. Chỉ viên đại uý Gatscông hoàn toàn tự do suy tưởng, gã nghĩ rằng mụ già chỉ hoàn toàn phù thuỷ ở phần thứ mười những điều mà gã chủ quán gán cho mụ, nhưng đó luôn luôn là ánh sáng dẫn bước gã tìm kiếm cái điều kiện mà gã đã thông báo cho chàng quý tộc Ăng-gumoa và chàng thị đồng trẻ nhưng những người này lại không thể cho gã một tín hiệu nào.
Vậy là gã bước qua chiếc ghế dài đến đứng trước mặt mụ phù thuỷ vừa uống xong cốc rượu vang đầu với vẻ thoả mãn rõ rệt. Hai chân doãng ra, bàn tay đặt trên đốc kiếm, đầu cúi xuống ngực, vừa mềm mỏng,vừa lì lợm, gã nhìn người đàn bà:
- Này mụ phù thuỷ! - Liệu mụ có thật sự đoán định trước được tương lai không?
- Với sự phù hộ của Thượng đế, thưa ông đôi khi được ạ.
- Liệu mụ có lấy được cho ta một quẻ bói không?
- Tôi sẽ thử xem nếu điều đó là ý muốn của ông?
- Đó là ý muốn của tôi.
- Vậy tôi xin tuân lệnh ông.
- Này, bàn tay tôi đây; hẳn mụ đoán đọc trong lòng bàn tay như cả bọn du thủ du thực của mụ phải không?
- Vâng, đúng thế.
Mụ phù thuỷ bằng đôi tay xương xẩu và đen xì nắm lấy bàn tay viên đại uý hầu như cũng khô và đen như bàn tay mụ.
- Ông muốn tôi nói gì trước với ông đây? - Mụ hỏi.
- Tôi muốn trước hết mụ nói cho tôi biết liệu tôi có làm nên sự nghiệp được không?
Mụ phù thuỷ xem xét hồi lâu bàn tay người Gatscông.
Người này sốt ruột không thấy mụ phù thuỷ cho biết những lời đoán định bèn ngẩng đầu, vẻ nghi ngờ:
- Ma quỷ thế nào mà mụ lại có thể đọc được trong bàn tay một người đàn ông để biết người ấy có làm nên sự nghiệp được chứ?- Gã hỏi.
- Ồ! Rất dễ thưa ông, chỉ có điều đó là bí mật cả tôi.
- Nào, hãy xem sự bí mật của mụ?
- Nếu tôi nói với ông điều đó, ông đại uý ạ - Mụ phù thuỷ trả lời – thì điều đó không còn là bí mật của tôi nữa mà là của ông rồi.
- Mụ có lý, mụ hãy giữ lấy nó nhưng hãy nhanh lên! Mụ cù bàn tay ta, mụ du thực ạ, ta không thích những gái già gãi gãi bàn tay ta.
- Ông sẽ làm nên sự nghiệp, ông đại uý ạ.
- Đúng thế chứ mụ phù thuỷ.
- Xin thề trước Thánh giá.
- Ôi, trời ơi! Tin tốt lành làm sao! Và mụ tin rằng điều này sẽ đến sớm chứ?
- Trong vài năm nữa thôi.
- Quỷ tha ma bắt! Ta muốn nhanh hơn nữa kia, ví dụ trong vài ngày thôi.
- Tôi có thể nói kết quả là các sự kiện nhưng không thể thúc chúng đi nhanh hơn được.
- Điều đó có đem lại cho ta nhiều nỗi cực nhọc không?
- Không, nhưng điều đó có thể gây ra nhiều khổ cực cho những người khác.
- Mụ muốn nói gì?
- Tôi muốn nói rằng ông có tham vọng, ông đại uý ạ.
- A! Xin thề trước thánh giá của Chúa! Đó là sự thật, mụ du thực ạ.
- Thế thì, để tiến tới những mục đích của ông, mọi con đướng sẽ tốt đẹp đối với ông.
- Phải, hãy chỉ cho ta một con đường thôi mà ta phải theo rồi mụ sẽ thấy.
- Ồ! Tự bản thân ông sẽ giành lấy nhưng thật khùng khiếp đấy!
- Còn ta sẽ trở nên thế nào khi theo con đường khủng khiếp ấy?
- Ông sẽ thành kẻ sát nhân, ông đại uý ạ.
- Ôi máu Chúa! - người Gatscông kêu lên- Mụ chỉ là đồ thối thây và mụ chỉ có thể lấy số tử vi của mụ cho những kẻ khá ngu ngốc để đi tin vào những chuyện ấy.
Rồi ném cho mụ giá cái nhìn phẫn nộ,gã trở lại bàn ngồi và làu bàu:
- Sát nhân! Ta ư?... Hãy nhớ lấy, mụ phù thuỷ ạ, mong rằng điều đó sẽ chỉ là một giấc ngủ dài.
Tiểu thư Xaclôttơ đã theo dõi thủ đoạn của viên đại uý và tai nàng căng ra vì sự tò mò của tuổi mười bốn, đã không bỏ sót một lời nào trong cuộc đối thoại giữa người Gatscông và mụ phù thuỷ liền hỏi với chàng thị đồng trẻ:
- Giắc, nay đến lượt ông lấy số tử vi của ông đi, việc này làm tôi thích thú đấy Giắc!
Người trẻ tuổi được gọi lần thứ hai với cái tên Giắc không phải ai khác mà là chàng thị đồng liền đứng lên không hề có ý kiến với thái độ nhanh nhảu của sự tuân thủ tuyệt đối, chàng đến gần mụ phù thuỷ:
- Tay tôi đây bà già tốt bụng ạ - Chàng nói – bà có vui lòng đoán cho tôi một quẻ như bà vừa đoán cho ông đại uý không.
- Rất sẵn sàng, chú nhỏ tốt bụng của tôi - Mụ nói.
Và nắm lấy bàn tay trắng như tay phụ nữ mà chàng trai giơ ra, mụ lắc đầu:
- Này bà lão –Chàng thị đồng hỏi – bà không thấy điều gì trong bàn tay này phải không?
- Chàng sẽ khổ sở, chàng ạ.
- A! Giắc tội nghiệp - thiếu nữ là kẻ đã gợi ra chuyện bói toán nửa giễu cợt, nửa âu lo.
Chàng trai mỉm cười u uất, miệng lẩm bẩm:
- Ta sẽ không khổ mà đang khổ.
- Chính tình yêu sẽ gây cho chàng mọi nỗi bất hạnh - Mụ già nói tiếp.
- Chí ít là tôi sẽ chết non hử?- Chàng thị đồng tiếp lời.
- Than ôi! Vâng, chú nhỏ tội nghiệp của tôi, vào hai mươi bốn tuổi.
- Càng hay!
- Thế nào, Giắc, càng hay sao?... Ông nói gì thế?
- Vì tôi phải khổ sở thì sống để làm gì? Chàng trai đáp – Ít ra thì tôi sẽ chết trên chiến trường chứ?
- Không.
- Trong giường tôi ư?
- Không.
- Do tai nạn phải không?
- Không.
- Vậy tôi sẽ chết như thế nào? bà lão.
- Tôi không thể nói chính xác với chàng rằng chàng sẽ chết như thế nào nhưng tôi có thể nói cho chàng biết nguyên nhân về cái chết của chàng.
- Vậy nguyên nhân ấy là gì?
Mụ già hạ thấp giọng:
- Chàng sẽ là kẻ sát nhân.
Chàng trai tái mặt như thể sự kiện được tiên đoán đã xảy ra rồi. Trở lại chỗ ngồi của mình, chàng cúi đầu:
- Cảm ơn bà lão – Chàng nói – mong rằng điều đã định đoạt đượt hoàn tất.
- Này – Viên đại uý hỏi chàng thị đồng: “con mụ giá bị đày đoạ ấy nói gì với ông thế, chàng trai công tử bột của tôi”.
- Tôi không thể nhắc lại điều gì, thưa ngài – chàng trả lời.
Viên đại uý liền quay sang người Ăng-gumoa:
- Này ông quý tộc trung thực của tôi – Gã nói – ông không tò mò ư? Cả ông nữa, hãy thử xem số phận ra sao? Hãy xem đi, dù đúng sai, tốt xấu thì một lời tiên đoán luôn làm thời gian trôi đi chốc lát.
- Xin ông thứ lỗi cho tôi – Chàng quý tộc hầu như đột nhiên thoát khỏi cơn mơ màng trả lời – trái lại tôi có vài điều quan trọng muốn hỏi người đàn bà này.
Rồi đứng dậy, chàng đi thẳng tới chỗ mụ phù thuỷ với cử chỉ dứt khoát tỏ rõ ở chàng có sức mạnh và sự kiên trì của ý chí.
- Bà lão phù thuỷ - Chàng trầm giọng nói vừa chìa một bàn tay gân guốc ra - liệu tôi có thành công trong công việc tôi muốn thực hiện không?
Mụ phù thuỷ nắm lấy bàn tay của người giơ ra cho mụ, sau khi nhìn một giây, mụ buông bàn tay người ấy ra vẻ kinh sợ:
- Ôi! Vâng - Mụ nói – ông sẽ thành công vì nỗi bất hạnh của ông.
- Thật tôi sẽ thành công chứ?
- Với cái giá nào đó, Giêsuma lạy chúa tôi!
- Với giá cái chết của kẻ thù của tôi phải không?
- Đúng.
- Thế thì tôi còn cần gì nữa?
Chàng quý tộc trở lại chỗ ngồi của mình vừa ném cho quận công Đờ Ghidơ một cái nhìn hận thù khôn tả.
- Kì lạ thật! Lạ thật! Lạ thật - mụ già lẩm bẩm - cả ba đều là sát nhân. Và mụ nhìn nhóm người gần viên đại uý Gatscông, chàng quý tộc Ăng-gumoa và chàng thị đồng trẻ với vẻ khủng khiếp. Cảnh bói toán này được các vị khách danh vọng ở phía đối diện của gian phòng đưa mắt chăm chú theo dõi. Chúng tôi nói dõi mắt vì dù không nghe được rõ hết thì ít ra cũng nhìn rõ.
Dẫu người ta it tin vào những chuyện bói toán, người ta vẫn luôn tò mò đi hỏi cái môn khoa học u tối này mà người ta gọi là quỷ thuật, hoặc để nó báo trước cho bạn nghìn lời tán dương mà người ta cho rằng có lý, hoặc nó báo trước cho các bạn nghìn nỗi bất hạnh mà ta kết tội nó là dối trá. Chắc hẳn vì lí do đó đã đẩy vị thống chế Xanh Ăngđrê đi hỏi mụ già.
- Ta chỉ thêm vào niềm tin tầm thường vào mọi trò bá láp này nhưng ta thú nhận rằng tuổi thơ ấu của ta, một mụ khất thực lang thang đã đoán cho ta những việc sẽ xảy ra với ta đến năm mươi tuổi, vậy ta không hề tức giận một mụ khác giờ đây tiên đoán cho ta những chuyện sẽ đến với ta cho tới khi ta chết… vậy hãy lại gần đây, mụ con gái của Bendêbuyt(1).
Mụ phù thuỷ đứng lên lại gần nhóm người này.
- Bàn tay ta đây – Thống chế nói – nào
(1)Bendêbuyt là con quỷ được coi là kẻ đứng đầu những tinh thần ranh ma trong thánh kinh.
hãy nói đi và nói to lên, liệu mụ có báo trước cho ta điều gì tốt lành không?
- Không có gì cả, thưa ngài thống chế.
- Không có gì cả à? Quỷ quái thật! Không hề chi, còn điều xấu?
- Xin đừng hỏi tôi, thưa ngài thống chế.
- Có chứ, nhất định! Ta hỏi mụ đấy. Này, nói đi, mụ đọc thấy gì trong bàn tay ta?
- Sự đứt quãng khốc liệt của đường mệnh, thưa ngài thống chế.
- Có nghĩa là ta không sống lâu được hử?
- Cha ơi! - Thiếu nữ lắp bắp đưa mắt cầu khẩn cha nàng đừng đi xa hơn nữa.
- Hãy để đó, Xaclôtơ – Thống chế nói.
- Xin hãy nghe theo lời cô bé xinh đẹp này - Mụ nói.
- Nào, nói hết đi, mụ khất thực, vậy ta chết sớm ư?
- Vâng, thưa ngài thống chế.
- Ta sẽ chết dữ dội hay sẽ chết bình thường.
- Chết dữ dội. Ngài sẽ đón nhận cái chết trên chiến trường nhưng không phải từ tay kẻ thù chính đáng.
- Vậy là từ tay một kẻ phản bội phải không?
- Từ tay một kẻ phản bội.
- Có nghĩa là…
- Nghĩa là ngài sẽ bị giết.
- Cha ôi! - Thiếu nữ rền rĩ, run rẩy nép sát vào người thống chế.
- Liệu con có thêm niềm tin vào tất cả những chuyện quỷ quái này không?- Ông nói và hôn lên trán con.
- Không thưa cha, nhưng tim con đập trong lồng ngực như thể nỗi bất hạnh ấy mà người ta tiên đoán cho cha sắp xảy đến với cha.
- Con ơi!- Ngài thống chế nhún vai nói- Nào, đến lượt con chìa bàn tay ra cho mụ để những lời tiên đoán của mụ thêm vào cuộc sống của con tất cả những ngày mà cuộc đời cha bị đứt đoạn.
Nhưng thiếu nữ khăng khăng từ chối.
- Vậy thì tôi sẽ làm gương cho tiểu thư, thưa tỉểu thư - Quận công Đờ Ghidơ chìa bàn tay cho mụ phủ thuỷ và nói kèm nụ cười mỉm.
- Ta báo trước cho mụ, mụ khất thực, rằng người ta đã ba lần lấy số tử vi cho ta và cả ba lần đều có kết quả tang tóc, hãy vì danh dự của pháp thuật, mụ chớ có nói dối.
- Thưa đức ông - Mụ già nói sau khi quan sát bàn tay quận công- tôi không cho biết người ta đã đoán gì cho ngài tới lúc này, nhưng đây là điều tôi tiên đoán cho ngài, chính tôi đây.
- Nào!
- Ngài sẽ chết như ngài thống chế Xanh Ăngđrê, bị giết.
- Đúng thế chứ? - Quận công nói – Và không có cách gì thoát được ư? Đây, cầm lấy và cút đi với quỷ.
Và ông ném cho mụ phù thuỷ một đồng tiền vàng.
- Ái chà! Đây là một cuộc sát hại những nhà quý tộc mà mụ phù thủy này đã tiên đoán cho chúng ta hẳn? Tôi bắt đầu tiếc đã để cho mụ vào, quận công ạ, và để tỏ ra không để riêng mình thoát khỏi số phận, thật đấy! Nào, đến lượt ta, bà già – Hoàng thân Côngđê nói.
- Vậy ra ông cũng tin vào các mụ phù thuỷ ư? Thưa hoàng thân- quận công Đờ Ghidơ hỏi.
- Đúng thế! quận công ạ, tôi đã thấy biết bao lời tiên đoán thiếu sót, biết bao lá số tử vi được thực hiện trọn vẹn, rằng tôi sẽ nói với ông như Mixen Môngtenhơ(1) “Ta biết gì?”. Này bà lão, bàn tay ta đây: bà thấy gì trong đó ? Tốt hay xấu hãy nói hết đi!
(1)nhà luân lí học Pháp cho rằng chỉ riêng bản thân lí lẽ không đủ đạt tới những thực tế siêu hình.
- Đây là điều tôi thấy trong bàn tay ngài, thưa đức ông: một cuộc đời đầy tình ái và chiến đấu, lạc thú và hiểm hoạ, kết thúc bằng một cái chết đẫm máu.
- Vậy là ta sẽ bị giết hử?
- Vâng, thưa Đức ông.
- Như ông thống chế Xanh Ăngđrê, như ông Đờ Ghidơ.
- Như các ngài ấy.
- Dù bà nói đúng hay sai, bà lão ạ, như bà vừa báo trước cho ta là ta sẽ chết cùng hội với những người cao cả có văn hoá; đây, trả công cho bà.
Và ông cho mụ già không phải chỉ một đồng vàng như quận công Đờ Ghidơ đã cho mà là cả túi tiền của ông.
- Đội ơn trời, thưa đức ông - Mụ già hôn lên bàn tay hoàng thân nói- cầu mong rằng mụ phù thuỷ khốn khổ này đã lầm lẫn và mong rằng lời tiên đoán không thành.
- Và nếu nó thành, bà lão ạ, mặc dầu bà muốn thấy nó không thành thì tuy nhiên ta hưa với bà là ta vẫn tin ở các nhà phù thuỷ. Đã đành – Ông hơi mỉm cười nói thêm – là việc này sẽ xảy ra hơi muộn.
Một sự im lặng ảm đạm kéo dài một lúc, trong khi đó, người ta nghe tiếng mưa rói dịu đi.
-Mà nay,- hoàng thân nói – dông tố ngớt rồi. Tôi xin chào các ngài, thưa ngài thống chế. Tôi xin chào ngài, thưa ngài quận công. Người ta đợi tôi ở lâu đài Côlinhi vào hồi chín giờ, vậy tôi phải lên đường thôi.
- Thế nào, thưa hoàng thân, trong cơn giông tố này ư? – Xaclôttơ hỏi.
- Thưa tiểu thư – Hoàng thân nói- tôi chân thành cảm ơn sự ân cần của tiểu thư, thế nhưng tôi không hề sợ sấm sét vì tôi phải bị giết.
Sau khi chào hai người bạn của ông, ông dừng lại trước tiểu thư Xanh Ăngđrê với ánh nhìn buộc thiếu nữ phải hạ mắt xuống; ông hoàng ra khỏi quán và một lát sau, người ta nghe thấy tiếng vó ngựa phi nhanh trên con đường đi Pari
- Hãy đưa cỗ xe ngựa lại gần đây,nhỏ Giắc – Thông chế nói - Nếu ngườ ta chờ đợi ở lâu đài Côlinhi thì người ta cũng đợi chúng ta ở lâu đài Tuôcnen vào hồi mười giờ đấy.
Cỗ xe ngựa áp gần. Thống chế Xanh Ăngđrê, con gái ông và quận công Đờ Ghidơ ngồi vào chỗ của họ trong xe.
Chúng ta hãy để họ theo gót ông hoàng Côngđê trên con đường đi Pari, sau này chúng ta sẽ còn gặp họ ở đó.
Chúng ta chỉ ghép những cái tên của ba nhân vật mà mụ phù thuỷ đã tiên đoán cho họ là sẽ bị giết; những cái tên của ba nhân vật mà mụ già tiên đoán cho họ sẽ trở thành những kẻ sát nhân: quận công Đờ Ghidơ, thống chế Xanh Ăngđrê, hoàng thân Côngđê; Pontrô-đờ-Mêrê, Bôbinhi-đờ-Bêdie, Môngtetskiu.
Chắc hẳn để cho những người này và những kẻ kia một lời báo trước với những người này cũng như với kẻ kia mà Thượng đế đã tập hợp sáu con người này trong quán “ Ngựa tía”.
vipngheo is offline   Reply With Quote
Sponsored Links